Một số suy nghĩ về việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền

guitien.jpgSau  hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển đổi vô cùng to lớn, người dân cả nước đều rất phấn khởi vì đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người đạt 835USD, gấp hơn 4 lần so với cách đây 20 năm.

Cùng với đó, quyền lợi của người dân cũng được xã hội chú trọng và quan tâm bảo vệ, trong đó quyền lợi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng (TCTD) đã được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước. Trong phạm vi bài viết này tác giả có một số suy nghĩ về chính sách bảo vệ quyền lợi người gửi tiền của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay với mong muốn các cơ quan có thẩm quyền xem xét điều chỉnh các cơ chế, chính sách nhằm  bảo vệ tốt hơn nữa quyền lợi của người gửi tiền để khuyến khích người dân yên tâm khi gửi tiền vào các TCTD.
Tiền nhàn rỗi của dân cư gửi vào ngân hàng góp phần tăng trưởng kinh tế
Người gửi tiền hiện nay chủ yếu là những người có tiền tạm thời chưa dùng đến được gửi vào các tổ chức tín dụng (TCTD) như: ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân, công ty tài chính… để sử dụng trong tương lai và cũng không ngoài mục đích sinh lời. Họ là những người thiếu cơ hội kinh doanh, thiếu thông tin về thị trường, vì vậy, việc gửi tiền vào các tổ chức này là hình thức đầu tư phù hợp, tốt nhất. Kết quả khảo sát tại các tổ chức có nhận tiền gửi cho thấy, số lượng người gửi tiền có thu nhập trung bình hoặc thấp, tức là ở mức khoảng dưới 50 triệu đồng chiếm từ 75- 80% tổng số người gửi tiền.
Vào những năm 1980, trong bối cảnh nền kinh tế  nước ta vừa thoát khỏi chiến tranh, đời sống người dân nói chung còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập chẳng những không đủ cho nhu cầu tiêu dùng tối thiểu nói gì đến tích luỹ. Tuy nhiên, bản chất của con người Việt Nam là cần cù, tiết kiệm và phòng xa nên các khoản tiền chắt chiu, dành dụm được gửi vào ngân hàng vẫn ngày một gia tăng. Đến nay, kinh tế đất nước liên tục đạt mức tăng trưởng cao, đời sống người dân không ngừng được cải thiện, nhiều người có “của ăn, của để” thì số tiền tích lũy ngày càng gia tăng, nếu biết khai thác để họ gửi  vào ngân hàng thì đây sẽ là một nguồn lực lớn để đầu tư phát triển kinh tế đất nước.  Theo đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu kinh tế thì nguồn vốn từ tiết kiệm của dân cư tăng trưởng đều đặn hàng năm và có tính ổn định cao, có vai trò quyết định đối với đầu tư, phát triển kinh tế bền vững.
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ của các TCTD luôn tiềm ẩn rủi ro. Hơn nữa, đây là lĩnh vực kinh doanh hết sức nhạy cảm, do trực tiếp dùng tiền huy động của người dân để thực hiện các hoạt động đầu tư nên nếu không có hệ thống cơ chế, chính sách pháp luật đầy đủ và cụ thể cũng như hệ thống kiểm soát rủi ro chặt chẽ của cơ quan chức năng thì nguy cơ đổ vỡ TCTD có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Trong trường hợp đó, người gửi tiền là người bị tác động đầu tiên do ảnh hưởng bởi sự đổ vỡ của TCTD, nếu không xử lý tốt thì sẽ dẫn đến mất niềm tin, gây hoang mang trong nhân dân, gây ra phản ứng dây chuyền làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Thực tế sự đổ vỡ hàng loạt của Hợp tác xã tín dụng vào những năm 1990 là một minh chứng cụ thể. Tiền tiết kiệm của rất nhiều người dân tại các tổ chức tín dụng bị phá sản không được thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ đã làm cho họ bị thiệt thòi có trường hợp còn khuynh gia, bại sản mà không có một tổ chức nào đứng ra để bảo vệ họ.

Các biện pháp bảo vệ người gửi tiền của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của nền kinh tế, từ năm 2000, Nhà nước đã thành lập tổ chức bảo vệ  quyền lợi của  người gửi tiền. Theo đó, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV), là cơ quan chuyên trách được Chính phủ thành lập, giao quyền thực hiện chính sách pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Những năm qua, pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi ngày càng được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu phát triển tất yếu khách quan của nền kinh tế đất nước, đã tạo được niềm tin vững chắc cho người gửi tiền. Một trong những số liệu cụ thể, thể hiện quyền lợi của người gửi tiền được pháp luật bảo vệ, đó là trong 8 năm qua, BHTGVN đã chi trả tiền bảo hiểm cho 1.517 người gửi tiền, với tổng số tiền gần 18 tỷ đồng, tại 35 Quỹ tín dụng nhân dân trong cả nước do hoạt động yếu kém, phải giải thể.
Bên cạnh hình thức bảo vệ trực tiếp trên, hình thức gián tiếp bảo vệ người gửi tiền thực hiện thông qua cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng, đối với hoạt động của TCTD. Trong đó chủ yếu là hoạt động kiểm tra, giám sát của DIV  và hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Đây là hình thức chủ yếu, quan trọng, nhằm đảm bảo sự phát triển an toàn, ổn định hoạt động của các TCTD. Các hoạt động này được thực hiện thường xuyên, từng bước được hoàn thiện theo thông lệ quốc tế, vì vậy ngày càng hiệu quả, đã ngăn chặn kịp thời sự đổ vỡ, nâng cao tính an toàn hoạt động của TCTD, nơi trực tiếp nhận tiền gửi của người dân.

Một số vấn đề cần được nghiên cứu, hoàn thiện nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người gửi tiền
Nền kinh tế Việt Nam đang được chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Cùng với đó là sự tham gia đầy đủ của các loại hình ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài. Đây là cơ hội, động lực thúc đẩy sự phát triển, cải cách hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện khơi tăng nguồn vốn nhàn rỗi từ trong các tầng lớp nhân dân thông qua các dịch vụ ngân hàng, tài chính hiện đại. Song, quá trình đó cũng đặt ra những thách thức lớn và gia tăng rủi ro đối với các TCTD. Những rủi ro xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó rủi ro do hậu quả của sự cạnh tranh khốc liệt, gay gắt của các ngân hàng để chiếm giữ thị phần, mà người gửi tiền không biết và cũng không thể có biện pháp tự bảo vệ mình. Trước thực tế đó, việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, ổn định, an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn hiện nay là rất quan trọng. Vì vậy, theo tôi một số vấn đề hiện nay cần được các cơ quan liên quan xem xét, nghiên cứu và hoàn thiện, đó là:
    1. Người gửi tiền cần phải được tiếp cận đầy đủ thông tin về hoạt động của tổ chức nhận tiền gửi, cũng như thông tin về chính sách bảo hiểm tiền gửi, nhằm khai thác triệt để, tối đa nguồn vốn nhàn rỗi từ trong dân. Do đó, hoạt động tuyên truyền, quảng bá của cơ quan liên quan cần được đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả đến đông đảo người dân.
    2. Hoạt động bảo hiểm tiền gửi phải dựa trên nền tảng pháp lý vững chắc, được quy định thành Luật, tương xứng với các luật khác liên quan điều chỉnh lĩnh vực hoạt động tài chính ngân hàng. Hiện tại, pháp luật về bảo hiểm tiền gửi mới chỉ ở mức Nghị định, một số nội dung chưa rõ ràng, nên hiệu lực pháp lý không cao. Quyền hạn, chức năng, vai trò của cơ quan chuyên trách trực tiếp bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền là Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và các cơ quan chức năng liên quan khác còn chưa thống nhất. Điều này hạn chế vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ.
    3. Trước sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của hệ thống tài chính, cùng với sự tăng cao thu nhập bình quân hàng năm của người dân, các cơ quan chức năng cần xem xét xây dựng nâng mức bảo hiểm tiền gửi kịp thời cho phù hợp với từng thời kỳ. Đồng thời, nhanh chóng áp dụng hệ thống giám sát và tính phí theo mức độ rủi ro đối với tổ chức tín dụng theo chuẩn mực quốc tế, để nâng cao trách nhiệm hoạt động an toàn, hiệu quả của TCTD, tạo niềm tin vững chắc, khuyến khích người dân gửi tiền nhiều hơn vào TCTD
Nguyễn Thị Hiền ( Bảo hiểm tiền gửi)

Comments are closed.