Không có sổ bảo hiểm, có được nhận bảo hiểm thất nghiệp?

Tôi làm việc cho một doanh nghiệp nước ngoài tại Bắc Ninh từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2011. Thời gian tham gia BHXH ở công ty đó là 3 tháng. Nhưng từ đó đến nay là hơn một năm, công ty đó vẫn chưa chốt sổ bảo hiểm cho tôi mặc dù tôi đã liên hệ để giục họ rất nhiều lần. 

Đến nay công ty đó nói rằng do một số sai sót gì đó nên chưa biết đến bao giờ họ mới có thể chốt được cho tôi. Hiện nay tôi sắp nghỉ việc ở công ty hiện tại và đang rất cần sổ BH để làm bảo hiểm thất nghiệp.

Tôi xin hỏi tôi phải kiện ra đâu để yêu cầu công ty đó chốt nhanh sổ bảo hiểm cho tôi? Nếu không có sổ bảo hiểm tôi có thể làm thủ tục bảo hiểm thất nghiệp được không? Nếu vì công ty đó làm chậm bảo hiểm, nên tôi không làm được thủ tục Bảo hiểm thất nghiệp thì tôi có được bồi thường không? Bạn đọc giấu tên.

Luật sư tư vấn:

alt

Ảnh minh họa

Theo thông tin bạn cung cấp, đối chiếu với các quy định pháp luật có liên quan chúng tôi đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

1. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên?

Theo quy định tại Điều 165a BLLĐ Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên bao gồm:

–  Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động;

–  Tòa án nhân dân.

Theo quy định tại Điều 166 và Điều 165a BLLĐ thì trước khi khởi kiện ra Tòa án nhân dân bạn buộc phải tiến hành hòa giải tại Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động theo quy định tại Điều 165a BLLĐ.

Một vấn đề nữa trong trường hợp của bạn là thời hiệu khởi kiện. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 167 BLLĐ thì thời hiệu khởi kiện là “6 tháng, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với các loại tranh chấp khác”. Vì vậy, nếu không có những sự kiện để bắt đầu lại thời hiệu theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005 thì trường hợp của bạn đã hết thời hiệu khởi kiện. Điều 162 BLDS 2005 quy định: 

2. Không có sổ bảo hiểm thì có thể làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp hay không?

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2010 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp thì Hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp bao gồm:

a) Đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo mẫu số 3 ban hành kèm theo Thông tư này.

b) Bản sao hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, quyết định thôi việc hoặc xác nhận của đơn vị cuối cùng trước khi thất nghiệp về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc theo đúng pháp luật.

Đồng thời, người lao động phải xuất trình Sổ Bảo hiểm xã hội có xác nhận của Cơ quan bảo hiểm xã hội về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Vậy theo quy định nêu trên, nếu bạn không có sổ bảo hiểm xã hội có xác nhận của cơ  quan bảo hiểm xã hội về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp thì bạn không thể làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

3. Nếu việc công ty không chốt sổ và trả sổ bảo hiểm dẫn đến việc không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì có được bồi thường hay không?

Nếu công ty không chốt sổ và trả sổ bảo hiểm cho bạn dẫn đến việc bạn không được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật thì trong yêu cầu khởi kiện ra Tòa án nhân dân bạn có thể đưa ra yêu cầu bồi thường này.

Vì theo quy định tại Điều 604: “Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại;

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”

Trong trường hợp trên, công ty là người có lỗi dẫn đến thiệt hại của bạn. Vì vậy, bạn hoàn toàn có cơ sở để yêu cầu công ty bồi thường thiệt hại.

(Vietnamnet.vn).

 

Comments are closed.