Bảo hiểm Nông nghiệp – Phía trước còn nhiều bộn bề

Ông Ngô Thanh Nam, Ch? t?ch H?QT Công ty TNHH T? v?n và truy?n thông GiNet Webbaohiem: Từ 1/7/2011, Quyết định 315/QH-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thí điểmm bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) đã chính thức có hiệu lực. Theo đó, BHNN sẽ được triển khai thí điểm tại 21 tỉnh, thành phố trong thời gian hai năm 2011-2013. Ngày 24/8/2011, đài truyền hình kỹ thuật số VTC5 đã có buổi phỏng vấn ông Ngô Thanh Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Tư vấn và truyền thông GiNet – phụ trách trang Webbaohiem – về vấn đề này. Webbaohiem xin trân trọng giới thiệu nội dung cuộc phỏng vấn.

 

Phóng viên: Thưa ông, xin ông cho biết quan điểm của Webbaohiem về Quyết định 315/QĐ-TTg của Chính phủ về thí điểm thực hiện Bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) giai đoạn 2011-2013 ?

Ông Ngô Thanh Nam:

Như chúng ta đã biết, Việt Nam là quốc gia sản xuất nông nghiệp với khoảng 70% dân số sống ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Hàng năm, sản xuất nông nghiệp đều phải gánh chịu các tổn thất rất lớn do thiên tai, dịch bệnh gây ra. Để hỗ trợ bà con nông dân giảm nhẹ thiệt hại, mỗi năm Nhà nước đã chi ra từ 200 đến 400 tỷ đồng. Có thể nói đây là khoản tiền đáng kể trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn và quy mô ngân sách hạn hẹp như hiện nay. Tuy vậy nếu so với mức thiệt hại từ 13 đến 15 nghìn tỷ đồng/năm mà bà con nông dân phải gánh chịu thì khoản trợ cấp nói trên mới chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.

Trong khi đó, tỷ trọng tham gia bảo hiểm của nông dân rất thấp: chưa tới 1% tổng diện tích cây trồng, vật nuôi được bảo hiểm. Bên cạnh đó, doanh thu phí bảo hiểm nông nghiệp cũng luôn ở mức dưới 1% tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường. Nói cách khác, bảo hiểm nông nghiệp gần như vẫn còn bị bỏ trống.

Thực trạng này luôn là mối lo đè nặng lên hoạt động sản xuất của nông dân mỗi khi phải đối mặt với rủi ro, đồng thời cũng là mối băn khoăn của Nhà nước và là sự day dứt của ngành bảo hiểm từ nhiều năm nay.

Kinh nghiệm quốc tế tại các nước đã triển khai thành công BHNN đã chỉ rõ rằng: Nếu không có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước, đừng nói tới việc thực hiện BHNN.

Do đó, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) giai đoạn 2011-2013 thực sự là bước tiến quan trọng trong việc tăng cường hỗ trợ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, giúp cho bà con nông dân giảm được gánh nặng mỗi khi phải gồng mình chống chịu với thiên tai, dịch bệnh. Nói một cách hình tượng, Quyết định số 315/QĐ-TTg ra đời có thể ví như giọt mưa đầu mùa đã về với những thửa ruộng cằn khô của người dân lam lũ.

Trên góc độ những người làm bảo hiểm nói chung và Webbaohiem nói riêng, Quyết định 315/QĐ-TTg được đánh giá là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia mạnh mẽ hơn vào lĩnh vực còn nhiều chông gai này.

Để sớm đưa chủ trương nói trên vào thực tiễn, Bộ NN&PTNT và Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản hướng dẫn (Thông tư số 47/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/6/2011 của Bộ NN&PTNT và Thông tư số 121 /2011/TT-BTC ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính). Đồng thời các doanh nghiệp bảo hiểm và các tỉnh được lựa chọn triển khai đã và đang hoạt động tích cực để sớm đưa sản phẩm BHNN đến tay bà con nông dân.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, những việc phải làm trước mắt vẫn còn rất bộn bề.

Phóng viên:
Ông đánh giá thế nào về ưu và nhược điểm của chương trình triển khai thí điểm Bảo hiểm nông nghiệp lần này?

Ông Ngô Thanh Nam:

Nhìn tổng thể, chương trình triển khai thí điểm bảo hiểm theo Quyết định 315/QĐ-TTg lần này có những thuận lợi rất cơ bản cho việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp. Thể hiện trên một số phương diện chính sau:

–    Thứ nhất, về sự hỗ trợ kinh phí của Nhà nước: Nhà nước đã có sự hỗ trợ mạnh về phí bảo hiểm cho người sản xuất: Trợ giúp 100% phí bảo hiểm đối với hộ nông dân, cá nhân nghèo sản xuất nông nghiệp; trợ giúp 80% phí bảo hiểm đối với hộ nông dân, cá nhân cận nghèo; và trợ giúp 60% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân không thuộc diện nghèo, cận nghèo sản xuất nông nghiệp; các tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm BHNN cũng được  trợ giúp 20% phí bảo hiểm.

–    Thứ hai, về sự tham gia của các Bộ, ngành và các cấp chính quyền: thực hiện Quyết định 315/QĐ-TTg, Bộ NN&PTNT và Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời quy định rõ nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan. Đặc biệt, các văn bản này đều quy định rõ sự tham gia khá sâu rộng của các cấp chính quyền từ tỉnh đến huyện, xã. Ngoài ra, vai trò của các tổ chức đoàn thể (Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…) cũng được đánh giá đúng mức và sẽ được phát huy tối đa trong quá trình triển khai. Chúng tôi cho rằng đây là những điều kiện nền tảng rất cần thiết trước khi có thể kỳ vọng vào sự thành công của bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam.

–    Thứ ba, về hướng thiết kế sản phẩm bảo hiểm: các quy định về kỹ thuật bảo hiểm có những điểm mới so với thực tế triển khai từ trước tới nay, cụ thể là: (1) việc áp dụng bảo hiểm theo chỉ số thay vì bảo hiểm mọi rủi ro, (2) đơn vị bảo hiểm là cấp xã thay vì từng hộ sản xuất như trước đây. Cách làm này giúp cho nhà bảo hiểm không phải bồi thường các rủi ro nhỏ lẻ của một vài hộ gia đình nhằm tập trung bồi thường cho những tổn thất mang tính thảm họa là chính, đồng thời tiết kiệm được các chi phí quản lý, giảm thiểu được thời gian, nhân lực và công sức trong việc giám định, bồi thường và ngăn ngừa các gian lận bảo hiểm có thể xảy ra.

Mặc dù vậy, bên cạnh những ưu điểm nói trên, theo chúng tôi việc triển khai thí điểm BHNN còn một số hạn chế như sau:
–    Về cơ chế hỗ trợ đối với doanh nghiệp: có thể thấy cơ chế hỗ trợ đối với DN BH trong Quyết định 315/QĐ-TTg và các văn bản hướng dẫn còn khá hạn chế, nếu không muốn nói là không đáng kể. Thể hiện trên một số mặt như:

+ Hạch toán doanh thu: Thông tư 121/2011/TT/BTC quy định “Phần phí bảo hiểm giữ lại trong năm sau khi đã trừ đi các khoản chi phí theo quy định, được dùng để bổ sung vào dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất” cũng có nghĩa là các doanh nghiệp thực hiện thí điểm BHNN sẽ không được ghi nhận lãi đối với BHNN, mà toàn bộ khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí (nếu có) sẽ phải trích lập dự phòng nghiệp vụ, trong khi nếu doanh nghiệp bảo hiểm lỗ từ nghiệp vụ này thì chỉ khi nào ảnh hưởng tới biên khả năng thanh toán mới được Nhà nước xem xét hỗ trợ. Theo chúng tôi, quy định như vậy là chưa thật hợp lý, chưa có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm.

+ Tái bảo hiểm và cơ chế hỗ trợ của Nhà nước: Mặc dù Thông tư 121/2011/TT/BTC quy định các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành tái bảo hiểm qua VINARE song chúng tôi cho rằng như vậy vẫn là chưa đủ. Rủi ro trong BHNN, nhất là khi có thiên tai mang tính thảm họa xảy ra thì mặc dù đã tái bảo hiểm, song doanh nghiệp bảo hiểm gốc vẫn có thể lâm vào tình trạng khó khăn, điêu đứng. Do vậy, nên chăng Nhà nước cần nghiên cứu và ban hành cơ chế tái bảo hiểm bổ sung hoặc cơ chế hỗ trợ trong trường hợp doanh nghiệp phải gánh chịu rủi ro quá lớn để giảm nhẹ gánh nặng cho các doanh nghiệp tiên phong thực hiện nhiệm vụ chính trị này.

–    Về tính bền vững của chương trình: thực sự đây mới là điểm băn khoăn lớn nhất của chúng tôi.
Cơ chế triển khai BHNN lần này vẫn dựa trên cách làm truyền thống là thực hiện thông qua các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại, đồng thời có sự trợ giúp của Nhà nước về phí bảo hiểm. Chúng ta đều biết các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng hoạt động nhằm mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, trong khi BHNN có đặc điểm là mức phí thấp, đối tượng bảo hiểm rải rác trên nhiều khu vực địa lý khác nhau, công tác giám định tổn thất rất khó khăn, chi phí quản lý lớn… và kết quả là lợi nhuận rất thấp cả về tỷ suất và số tuyệt đối, thậm chí việc xảy ra thua lỗ là khó tránh khỏi. Trong trường hợp đó, ban điều hành các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ khó có thể duy trì nghiệp vụ này do sức ép về hiệu quả và lợi nhuận từ phía cổ đông. Vì vậy, tôi e rằng sau khi kết thúc thời gian thí điểm, việc tiếp tục “giữ chân” doanh nghiệp bảo hiểm với chương trình này sẽ là một vấn đề khá nan giải.

Kinh nghiệm triển khai thành công BHNN trên Thế giới cho thấy ngoài việc nhà nước phải tăng cường hỗ trợ nhiều hơn nữa (về chủ trương chính sách, về cơ chế tái bảo hiểm, về hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp bảo hiểm…) thì một mô hình khác rất có ưu thế là triển khai BHNN thông qua các tổ chức bảo hiểm tương hỗ – theo đó, các hộ gia đình tham gia bảo hiểm đồng thời cũng là thành viên của tổ chức bảo hiểm tương hỗ. Mô hình này có những ưu điểm nổi trội như chi phí bán hàng và chi phí quản lý rất thấp (do tổ chức bảo hiểm rất gần với các hộ gia đình), hạn chế được gian lận bảo hiểm (do cơ chế giám sát chéo giữa các thành viên trong tổ chức) và đặc biệt vì tổ chức bảo hiểm tương hỗ không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận mà chức năng chính là tương trợ và san sẻ rủi ro trong cộng đồng dân cư nông nghiệp, nông thôn nên việc duy trì, phát triển tổ chức bảo hiểm là một nhu cầu thiết thân của nhà nông. Ở Việt Nam, khung pháp lý cho mô hình bảo hiểm này có thể nói là đã khá thuận lợi với việc quy định cụ thể trong Luật kinh doanh bảo hiểm và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 18/2005/NĐ-CP ngày 24/2/2005 của Chính phủ quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ, tuy vậy cho đến nay vẫn chưa có tổ chức bảo hiểm tương  hỗ nào được thành lập và hoạt động.

Theo chúng tôi, để BHNN có thể triển khai thành công, có hiệu quả và phát triển bền vững, trong thời gian tới, Nhà nước rất nên ban hành những cơ chế, chính sách và hỗ trợ phù hợp nhằm tạo điều kiện cho việc ra đời và phát triển của các tổ chức bảo hiểm tương hỗ.

Mặc dù trước mắt, BHNN vẫn còn rất nhiều khó khăn, song chúng tôi tin tưởng rằng với sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước – thể hiện thông qua lần triển khai thí điểm này, sự tham gia tích cực của các địa phương, các doanh nghiệp bảo hiểm, các nông hộ và sự đúc kết kinh nghiệm trong quá trình triển khai, BHNN tại Việt Nam sẽ sớm tìm được hướng đi phù hợp để tồn tại và phát triển, từng bước thực hiện được chức năng san sẻ rủi ro, giảm thiểu thiệt hại trong sản xuất và đời sống cho bà con nông dân.

Phóng viên:
Xin cảm ơn ông !

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here