Bảo hiểm nông nghiệp – Những bài học thành công (phần 3)

Ảnh minh họaPhần 3:
3. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
    Cách thức tổ chức, quản lý và triển khai bảo hiểm nông nghiệp tại các nước nói trên đã thu được những kết quả đáng khích lệ, trực tiếp góp phần giảm nhẹ thiệtt hại tài chính cho nông dân.
    Tại Tây Ban Nha: sự đa dạng của hệ thống sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp được coi là một trong những lý do chính dẫn tới tỷ lệ tham gia bảo hiểm của nông dân nước này rất cao. Trong năm 2000, có khoảng 30% hộ nông dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp và khoảng 30% cây trồng, 10% vật nuôi được bảo hiểm.

    Trong năm 1999, tổng doanh thu phí của AGROSEGURO là 307 triệu Euro, trong đó nông dân đóng 155,8 triệu Euro và Nhà nước đóng góp 151,2 triệu Euro. Chi phí quản lý của AGROSEGURO trong năm là 11,7 triệu Euro. ENESA đại diện cho Nhà nước tiến hành trợ cấp phí bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm thông qua AGROSEGURO. Mức trợ cấp lên tới 41% tổng số phí bảo hiểm, thậm chí đạt 45% đối với các sản phẩm bảo hiểm đa rủi ro thiên tai. Tỷ lệ bồi thường/phí bảo hiểm của cả hệ thống trung bình giai đoạn 1980-1999 là 113%. Việc bồi thường do CCS và các công ty bảo hiểm thực hiện. Năm 1999, tổng số tiền chi bồi thường của CCS là 79,9 triệu Euro.
    Tại Mỹ: Trong thập kỷ 1990, các chương trình bảo hiểm nông nghiệp đã thu hút được sự tham gia của 35% nông dân Mỹ. Tổng số tiền trợ cấp phí bảo hiểm, trợ cấp chi quản lý và trợ cấp tiền bồi thường của Chính phủ Mỹ trong giai đoạn này đã lên tới 10 tỷ USD. Đặc biệt, sau khi Luật sửa đổi Bảo hiểm mùa màng 1994 ra đời, mức độ tham gia bảo hiểm đã tăng rất nhanh, cả về số lượng người tham gia bảo hiểm, diện tích được bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm. Nếu diện tích được bảo hiểm năm 1994 chỉ là 40 triệu ha thì đến năm 2000, con số này đã lên tới 82 triệu ha – tương đương với trên 2/3 diện tích canh tác toàn quốc (Bảng 3).

alt

    Tại Canađa: Đến tháng 11/1999, số lượng hộ nông dân tham gia chương trình Tài khoản bình ổn thu nhập thuần (NISA) trên toàn quốc là trên 135.000 hộ, bằng khoảng 60% hộ đủ tiêu chuẩn tham gia. Số dư tài khoản bình quân là khoảng 20.000 USD/hộ, tổng số dư toàn quốc xấp xỉ 2,7 tỷ USD.
    Đối với bảo hiểm mùa màng: Trong niên vụ 1998-1999 đã có hơn 100.000 chủ nông tham gia bảo hiểm với gần 20 triệu ha diện tích canh tác được bảo hiểm (Bảng 4). Điều này cũng có nghĩa là khoảng 50% số người sản xuất nông nghiệp đủ điều kiện đã tham gia bảo hiểm và khoảng 55% diện tích trồng trọt đã được bảo hiểm.

alt

Đóng góp vào thành công của bảo hiểm nông nghiệp tại Canađa trước tiên phải kể đến vai trò của Chính phủ. Những năm vừa qua, Chính phủ nước này đã chi ra khoản ngân sách đáng kể nhằm hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp (Bảng 5).

alt

Tại Nhật Bản: Những năm vừa qua, bảo hiểm nông nghiệp tại Nhật Bản đã thu được rất nhiều thành công, không chỉ về số lượng người tham gia bảo hiểm, số lượng đối tượng được bảo hiểm mà cả về doanh số phí thu được. Đồng thời, kết quả thực hiện bảo hiểm nông nghiệp tại Nhật Bản cũng chứng tỏ sự hỗ trợ rất tích cực của Nhà nước. Chỉ riêng trong lĩnh vực tài trợ phí bảo hiểm và chi bồi thường, Chính phủ nước này hàng năm đã đóng góp trên dưới 50% phí bảo hiểm và 50% tiền bồi thường cho bảo hiểm nông nghiệp. Bảng 6 dưới đây là một minh họa cụ thể:

alt

Tại Ấn Độ: Với cách thức tổ chức và hoạt động khá hiệu quả, các chương trình bảo hiểm nông nghiệp của Ấn Độ (chủ yếu là CCIS và NAIS) đã thu hút được một số lượng đông đảo người sản xuất nông nghiệp tham gia với diện tích bảo hiểm và số tiền bảo hiểm khá lớn (xem Bảng 7 và Bảng 8).

alt

alt

HHK

Comments are closed.