Bài 13 – Quyền lợi Bảo hiểm (insurable intenest)

Theo luật bảo hiểm hàng hải (đơn bảo hiểm liều lĩnh) 1909, là một vi phạm nếu người nào ký một hợp đồng bảo hiểm mà người đó không có quyền lợi bảo hiểm ở đối tượng bảo hiểm và không có triển vọng hợp lý có được quyền lợi này.

MIA 1906 định nghĩa “quyền lợi bảo hiểm” như sau:

            Quyền lợi bảo hiểm được định nghĩa

             5. – (1) Phụ thuộc vào các điều khoản của bộ luật này, người có quyền lợi có thể bảo hiểm là người quan tâm đến hành trình đường biển(2) Nói riêng, một người được quan tâm đến hành trình đường biển khi anh ta có liên quan về pháp lý hay tình cờ tới hành trình hoặc bất cứ tài sản có thể bảo hiểm nào có rủi ro mà theo đấy người ấy có thể hưởng lợi sự an toàn hoặc tài sản có thể bảo hiểm đến đúng thời hạn , hoặc có thể bị phương hại do tài sản đó bị tổn thất hay tổn hại hay bị cầm giữ, hoặc phát sinh trách nhiệm cho người ấy.

Dù rằng người được bảo hiểm không cần phải có quyền lợi bảo hiểm vào thời điểm ký hợp đồng bảo hiểm nhưng người được bảo hiểm cần phải có quyền lợi ấy vào thời điểm xảy ra tổn thất. Điều này đã được qui định bởi mục 6 MIA 1906, nhưng, để tránh hiểu nhầm, điều này được quy định cụ thể trong điều khoản dưới đây mà có trong cả ba bộ ICC 1982:

 11 Điều khoản quyền lợi bảo hiểm.

11.1 Để có thể căn cứ vào bảo hiểm này mà đòi bồi thường người được   bảo hiểm phải có quyền lợi thể bảo hiểm vào thời gian xảy ra tổn thất.

11.2 theo như 11.1 trên đây, người được bảo hiểm có quyền đòi bồi thường cho số tổn thất được bảo hiểm xảy ra trong thời hạn bảo hiểm dù cho tổn thất đã xảy ra trước khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết trừ khi người được bảo hiểm biết là có tổn thất mà người bảo hiểm thì chưa hay biết.Phần thứ hai của điều khoản 11 liên quan đến một tập quán đã có từ lâu, được gọi là “bị tổn thất hay không bị tổn thất” (“lost or not lost”), theo đó đơn bảo hiểm đảm bảo những tổn thất được bảo hiểm xảy ra cho hàng hoá đã bắt đầu được vận chuyển trước khi thực hiện hợp đồng bảo hiểm, và hàng hoá đã bị tổn thất vì rủi ro được bảo hiểm mà người được bảo hiểm không biết lúc thực hiện bảo hiểm. Nếu người bảo hiểm chấp nhận rủi ro khi biết có tổn thất, có nghĩa là anh ta chấp nhận trách nhiệm, trừ khi anh ta loại trừ cụ thể tổn thất này.Trường hợp có một khiếu nại thuộc đơn bảo hiểm này, người bảo hiểm có thể buộc người được bảo hiểm chứng minh quyền lợi bảo hiểm của mình trên đối tượng được bảo hiểm vào lúc xảy ra tổn thất, và nếu không chứng minh được, khiếu nại đòi bồi thường sẽ không được giải quyết. Cần lưu ý là một đơn bảo hiểm mà qui định là người được bảo hiểm không cần phải chứng minh quyền lợi bảo hiểm vào lúc tổn thất (đơn bảo hiểm PPI), thì người bảo hiểm vẫn cần phải có quyền lợi bảo hiểm vào thời điểm xẩy ra tổn thất, và nếu người bảo hiểm nghi ngờ là người được bảo hiểm không có quyền lợi ấy, anh ta có thể từ chối giải quyết bồi thường. Trong những trường hợp mà người được bảo hiểm không thể đưa khiếu nại của anh ta ra toà vì đơn bảo hiểm PPI là một hợp đồng “không có hiệu lực” (MIA 1906- mục 4(2b).

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here