Bài 10 – Điều khoản loại trừ chung trong icc 1982

Như đã nói ở trên, người bảo hiểm đã đưa phần lớn các loại trừ pháp định vào điều khoản 4 của ICC 1982. Nhiều loại trừ ngoài MIA mà cần thiết theo tập quán cũng được đưa vào. Nói chung, các loại trừ áp dụng chung cho cả ba bộ điều khoản, song nhận thấy rằng loại trừ “tổn thất có chủ tâm” (deliberate damage) (đk 4.7) trong B và C không có ở trong đk A. Sau đây là trích lục ICC 1982 B, cũng được áp dụng cho cả C:

4. Điều khoản loại trừ chung            

Trong mọi trường hợp bảo hiểm này không bảo hiểm cho:          

 4.1 Tổn thất, tổn hại hay chi phí được qui cho hành vi xấu cố ý của người được bảo hiểm.

4.2 Rò chảy thông thường, hao hụt trọng lượng hoặc giảm thể tích thông thường, hoặc hao mòn thông thường ở đối tượng bảo hiểm.

4.3 Tổn thất, tổn hại hay chi phí gây ra bởi đóng gói hoặc việc chuẩn bị của đối tượng bảo hiểm chưa đầy đủ hay không thích hợp (theo chủ ý của điều 4.3 này “đóng gói” phải được coi là bao gồm cả xếp hàng vào container hoặc liftvan nhưng chỉ khi nào việc xếp hàng đó được tiến hành trước khi bảo hiểm này có hiệu lực hoặc tiến hành bởi người được bảo hiểm hay làm công của họ)           

4.4 Tổn thất, tổn hại hay chi phí gây ra bởi nội tì hoặc tính chất của đối tượng bảo hiểm.

4.5 Tổn thất, tổn hại hay chi phí gây ra bởi chậm trễ ngay cả khi chậm trễ do một rủi ro được bảo hiểm (loại trừ) những chi phí được bồi thường theo điều 2 trên)

4.6 Tổn thất, tổn hại hay chi phí phát sinh từ tình trạng mất khả năng tài chính hoặc thiếu thốn về tài chính của chủ tàu, người quản lý, người thuê hoặc người khai thác tàu.

4.7 Chủ tâm gây tổn hại hoặc phá huỷ của đối tượng bảo hiểm hay một bộ phận bất kỳ của đối tượng đó do hành động sai trái của bất kỳ người nào hay những người nào.4.8 Tổn thất, tổn hại hay chi phí xuất phát từ việc sử dụng bất kỳ một loại vũ khí chiến tranh gì dùng tới phản ứng hạt nhân hay nguyên tử hoặc phản ứng khác tương tự hoặc năng lượng hay chất phóng xạ.

một vài lưu ý về các loại trừ chung (notes on General / exclusions)

Điều khoản loại trừ chung xuất hiện ở cả ba bộ ICC 1982 giống như điều khoản 4. Những bình luận sau đây liên quan đến số điều khoản được giải thích đối với mỗi loại trừ. Ta thấy rằng trong mỗi trường hợp (trừ trường hợp điều khoản 4.2 trong  điều khoản A,B và C và điều khoản 4.7 trong điều khoản B và C) loại trừ này áp dụng cho các chi phí được tính vào tổn thất hoặc tổn hại đối với hàng hoá.

Sai trái cố ý của người được bảo hiểm (A,B và C – đk 4.1)

– loại trừ được qui định rõ ràng này nhấn mạnh loại trừ nêu trong mục 55 MIA 1906, đã ghi lại trên đây. Cần lưu ý là dù tổn thất hay chi phí trực tiếp gây ra bởi một rủi ro được bảo hiểm được loại trừ nếu nó có thể quy cho hành động sai trái cố ý của người được bảo hiểm. Điều khoản 1963 cũ qui định là bất kỳ sai trái hay bất cẩn của chủ tàu hay người làm công của họ không phương hại đến quyền đòi bồi thường của người được bảo hiểm về các tổn thất thuộc đơn bảo hiểm này, song quy định ấy không có trong ICC 1982.

Rò chảy thông thường (A,B và C – đk 4.2)

thuật ngữ này thường áp dụng cho sự bốc hơi (evaporation), mà thường là nguyên nhân tự nhiên của tổn thất hàng hoá thể lỏng. Một vài ví dụ như là tổn thất số lượng dầu, hao ngót hàng hạt. Thông thường một mức miễn thường được thoả thuận trước (an agreed allowance) được khấu trừ khỏi số bồi thường đối với tổn thất bộ phận của những loại hàng hóa này để giải thích cho tổn thất tự nhiên.

Tổn thất trọng lượng hoặc khối lượng thông thường (a, b và c- đk 4.2)

Loại trừ “đổ vỡ thông thường” (ordinary breakage) mà xuất hiện trong MIA 1906 nhưng không nằm trong các loại trừ của ICC, nằm trong cả hai thuật ngữ trên. Đây là bổ sung cho loại trừ “rò chảy thông thường” (ordinary leakage) và đảm bảo mọi hình thức tổn thất thương mại (hao hụt) đều bị loại khỏi đơn bảo hiểm này.

Hao mòn thông thường (A, B và C- đk 4.2)

  Thuật ngữ này không thể áp dụng cho nguyên liệu thô hoặc hàng hoá mới chế tạo song được áp dụng cho hàng hoá đã qua sử dụng ( thí dụ máy móc) được bảo hiểm bởi đơn bảo hiểm này. Loại trừ này cho phép người bảo hiểm khấu trừ trên chi phí sửa chữa hay giảm giá thương mại vì lý do người được bảo hiểm được hưởng dụng đồ mới.

Đóng gói không thích hợp (A, B và C- đk4.3)

Trừ khi đơn bảo hiểm quy định cụ thể là sẽ bảo hiểm cả bao bì đóng gói (covers the packaging), không một khiếu nại về thay thế nguyên bao bì đóng gói vị tổn thất được bồi thường trừ khi hậu quả của sự tổn thất này là do một hiểm hoạ được bảo hiểm. Trong trường hợp này thông thường người ta áp dụng một tỷ lệ giảm trị thương mại  cho toàn lô hàng mà không đề cập tới bao bì. Tuy nhiên, nếu chứng minh được tổn thất, tổn hại hay chi phí thật sự do bao bì yếu kém hay không thích hợp thì tổn thất này không được bôì thường theo ICC. Loại trừ này mở rộng ra bao gồm cả chuẩn bị hàng hoá được bảo hiểm không thích hợp. Ví dụ, nếu hàng hoá dễ hư hỏng mà không được xếp lồng vào nhau hoặc đóng gói để chịu được sự vận chuyển thông thường dự định sẽ diễn ra trong quá trình chuyên chở, người bảo hiểm có thể sẽ không chấp nhận bất kỳ khiếu nại nào theo điều khoản A đối với đổ vỡ gây ra trong quá trình chuyên chở. Lưu ý quan trọng là loại trừ này bao gồm cả việc xếp hàng (thường gọi là “đóng hàng”) vào trong công ten nơ hoặc các khay hàng (liftvan). Nó không có ý định loại trừ tổn thất gây ra bởi xếp hàng không tốt khi việc xếp hàng này được thực hiện bởi người khai thác công ten nơ, không phải là người được bảo hiểm, sau khi rủi ro đã xẩy ra. Loại trừ này nhằm mục đích áp dụng trong trường hợp người được bảo hiểm kiểm soát quá trình xếp hàng, chẳng hạn như trước khi vận chuyển, hoạc khi việc xếp hàng do người được bảo hiểm hoặc người làm công cho họ trực tiếp thực hiện.

Nội tì (A, B và C -đk 4.4)

Loại trừ này có trong MIA 1906 và trong điều khoản cũ 1963. Lưu ý quan trọng là loại trừ này chỉ áp dụng cho nội tì hay bản chất tự nhiên của đối tượng được bảo hiểm. Vì vậy, nếu hàng hoá được bảo hiểm được chất cạnh một hàng hoá dễ tự bốc cháy, và hoả hoạn xảy ra do hàng hoá đó tự bốc cháy, hàng hoá được bảo hiểm được bồi thường về tổn thất bởi hoả hoạn nếu bị tổn hại vì lý do này. Nói cách khác, tổn thất vì hoả hoạn do tự bốc cháy không được bồi thường. Hàng hoá dễ bị hư hỏng (perishable goods) bị tổn thất do nội tì theo sau việc giao hàng chậm (thí dụ hoa quả), hư hại này không được đk A bồi thường (xem thêm “loại trừ do chậm trễ” dưới đây).

 

Chậm trễ (A, B và C – đk 4.5)

MIA 1906 quy định là người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về tổn thất trực tiếp gây ra bởi chậm trễ, cho dù chậm trễ là do một hiểm hoạ được bảo hiểm. Loại trừ này được diễn tả trong ICC 1982, nhưng nhấn mạnh là tất cả các tổn thất, hư hại hay chi phí đều bị loại trừ (MIA không nói đến “tổn hại” hay “chi phí”). Chú ý quan trọng là vì không có lý do bào chữa là chậm trễ  là do  một hiểm hoạ được bảo hiểm, do vậy nếu tàu chuyên chở bị chậm trễ do đâm va, và chậm trễ gây ra hư hỏng hàng hoá thì không thể khiếu nại đối với đơn bảo hiểm về sự hư hỏng này trên cơ sở quy hợp lý cho đâm va. Loại trừ này không áp dụng cho bất kỳ khoản đóng góp nào mà người được bảo hiểm phải thực hiện đối với chi phí hay hy sinh tổn thất chung.

Mất khả năng thanh toán hay vỡ nợ của người chuyên chở (A, B và C- đk 4.6)

– Loại trừ này được đưa vào ICC để cản người được bảo hiểm giao hàng cho tàu mà người điều hành con tàu này đang gặp khó khăn về tài chính. Nếu được áp dụng một cách khắt khe, loại trừ này có thể áp dụng cho mọi tổn thất của hàng hoá hay các chi phí mà người bảo hiểm phải gánh chịu xuất phát từ việc mất khả năng thanh toán của người chuyên chở. Như vậy, nếu người chuyên chở không thể hoàn tất hành trình và dỡ hàng hoá ở cảng dọc đường, người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm về mọi tổn thất gây ra vì việc dỡ hàng này hay việc bốc lại lên một tàu khác, cũng như chi phí chuyển tiếp hàng. Cần ghi nhớ rằng điều khoản “chi phí chuyển tiếp” (forwarding expenses) (điều khoản 12) chỉ được áp dụng cho trường hợp hàng hoá phải dỡ xuống tại một cảng dọc đường vì một hiểm hoạ được bảo hiểm mà hiểm hoạ được bảo hiểm không bao gồm mất khả năng tài chính của người chuyên chở. Có thể là dẫn chiếu đến “vỡ nợ” (financial default) là nhằm vào các trường hợp mà người chuyên chở dùng hàng hoá làm đảm bảo cho các trách nhiệm tài chính đang tồn đọng (outstanding financial liabilities), có lẽ để lại hàng hoá tại cảng dọc đường để giải toả tàu khỏi trách nhiệm về phí cảng. Người chuyên chở dự kiến sẽ quay lại, trả phí cảng, lấy lại hàng hoá và giao; nhưng, nếu tàu bị mất tích trong thời gian đó, người được bảo hiểm có thể mất hàng hoá này mà không thể đòi bồi thường theo đơn bảo hiểm của mình.

Hư hại hay phá huỷ có chủ ý (chỉ B và C thôi- đk 4.7)

Ơ trên đã nói là “chủ tâm” trong đơn bảo hiểm SG không áp dụng cho bảo hiểm hàng hoá. Loại trừ này xác định quan điểm của người bảo hiểm là không bảo hiểm mọi hình thức tổn hại hay phá huỷ chủ ý theo điều khoản B và C nếu không có xem xét hợp lý và một khoản phí phụ. Tuy nhiên, nếu người được bảo hiểm muốn bảo hiểm rủi ro này, anh ta có thể yêu cầu người bảo hiểm. Nếu bảo hiểm này được chấp thuận sẽ được đính thêm điều khoản sau đây:

1/8/82(Chỉ sử dụng đối với mẫu đơn bảo hiểm hàng hải  mới)

Điều khoản bảo hiểm tổn hại do ác ý

 Khi xem xét đến đóng phụ phí, thoả thuận dưới đây là loại trừ “tổn hại chủ ý hay phá huỷ chủ ý đối tượng được bảo hiểm hay mọi phần của nó bởi hành vi sai trái của một người hay nhiều ngườiÕ được coi là được loại bỏ và đồng ý thêm là bảo hiểm này đảm bảo tổn thất hay tổn hại của đối tượng được bảo hiểm gây ra bởi hành vi ác ý, phá hoại nhưng vẫn bị chi phối bởi các loại trừ khác trong bảo hiểm này.

ĐK 266. Do công ty Witherby, London bán

Để mở rộng bảo hiểm các rủi ro bị loại trừ bởi điều khoản 4.7 trong B và C khi cần thiết, bảo hiểm này được mở rộng để bao gồm cả tổn hại do ác ý, phá hoại cố ý và * phá hoại vì mục đích chính trị (sabotage) .  Điều khoản này (đk 266) không áp dụng cho ICC A vì những rủi ro này đã bao gồm trong thuật ngữ “all risks” (mọi rủi ro) và loại trừ này (B đk 4.7) không xuất hiện trong  điều khoản A (* Lưu ý – đk7.3 loại trừ các hành vi chính trị).

Vũ khí hạt nhân (A đk 4.7, B và C đk 4.8)

Tập quán loại trừ tất cả các tổn thất phát sinh từ việc sử dụng vũ khí hạt nhân (hay tương tự) trong mọi hình thức bảo hiểm, và ICC 1982 cũng không là ngoại lệ. Ngay khi điều khoản B và C được xem xét, những rủi ro này chỉ tác động đến bảo hiểm cho cháy hoặc nổ, người ta nghi ngờ là việc sử dụng vũ khí hạt nhân có thể sẽ gây ra tổn thất liên quan đến các rủi ro khác được qui định cụ thể trong điều khoản này. Tuy nhiên loại trừ trong điều khoản A này là cần thiết vì điều khoản loại trừ chiến tranh (đk 6) không thể giải thích là loại trừ tổn thất phát sinh từ việc sử dụng vũ khí hạt nhân mà không gây nguy hiểm (Ví dụ: trong khi thử nghiệm).  Kiểm tra điều khoản chiến tranh sẽ chỉ ra là việc sử dụng nguy hiểm vũ khí hạt nhân được loại trừ khỏi bảo hiểm rủi ro chiến tranh.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here