Bài 1 – Mở đầu

Các điều khoản đầu tiên về hàng hoá của Hiệp hội được đưa vào thị trường bảo hiểm Luân đôn năm 1912. Các điều khoản này đã được Uỷ ban Điều khoản và Kĩ thuật xây dựng, đại diện cho cả Lloyd’s lẫn các Công ty bảo hiểm, và dựa vào các điều khoản thông dụng lúc bấy giờ.

Nhu cầu phải có các điều khoản tiêu chuẩn đã trở nên rõ ràng vì có rất nhiều các điều khoản khác nhau được dùng để sửa đổi đảm bảo của mẫu đơn bảo hiểm SG. Mặc dù hành văn kỳ cổ đơn bảo hiểm hàng hoá SG vẫn còn được sử dụng, không sửa đổi từ khi được thị trường Luân đon chấp nhận vào năm 1795 chỉ là vì những người bảo hiểm thuộc thế hệ sau đã bổ xung những điều khoản để khiến cho đơn bảo hiểm này phù hợp với thời đại. Để tiêu chuẩn hoá, ba bộ điều khoản hàng hoá đã được đưa ra vào năm 1912 – (I) “Free of particular average” (không bảo hiểm tổn thất riêng), (2) ” With Average” (Bảo hiểm tổn thất riêng) và (3) “All Risks” (Mọi rủi ro). Mặc dù có những thay đổi nhưng thực tế cơ bản các diều khoản này không sửa đổi mà đỉnh cao là ICC 1963 (ICC là Institute Cargo Clause – Điều khoản bảo hiểm hàng hoá của học hội bảo hiểm Luân đôn). Ơ đây không có ý so sánh bảo hiểm giữa hai bộ điều khoản 1963 và 1982, nhưng thiết nghĩ một tóm lược ngắn của ICC 1963 sẽ giúp ích nhiều cho những ai chưa quen biết với điều khoản 1963.

Điều khoản “All Risks” của ICC 1963 nới rộng những hiểm hoạ trong mẫu đơn bảo hiểm SG để bao gồm tất cả những tổn thất bất ngờ. Tổn thất trực tiếp gây ra bởi chậm trễ và nội tì (Inherent vice) của đối tượng được bảo hiểm bị loại trừ.  Bảo hiểm này cho cả tổn thất toàn bộ và bộ phận, ba gồm tổn thất riêng và tổn thất chung. Ghi chú (memorandum) trên đơn bảo hiểm SG (để áp dụng miễn thường không khấu trừ cho tổn thất riêng) không áp dụng cho bồi thường tổn thất riêng theo điều khoản ” All Risks”.

Khi điều khoản FPA hay WA của ICC 1963 được đính kèm vào mẫu đơn bảo hiểm SG, các hiểm hoạ được liệt kê trong mẫu được áp dụng cho những tổn thất trực tiếp gây ra bởi hiểm hoạ được bảo hiểm song bị chi phối bởi loại trừ đối với tổn thất riêng qui định trong điều khoản. Cụ thể một khác biệt duy nhất giữa FPA và WA là cách giải quyết tổn hại do biển động (heavy weather damage). Điều khoản WA bảo hiểm các tổn hại vì biển động miễn là các tổn hại này không tỷ lệ phần trăm qui định trong memorandum trong đơn bảo hiểm SG, trong khi điều khoản FPA không bảo hiểm tổn thất bộ phận như thế. Tuy nhiên, nếu tầu hay xà lan chuyên chở bị mắc cạn, chìm, cháy với hàng hoá trên đó trong thời gian ấy, cả hai bộ điều khoản đều bảo hiểm đầy đủ cho tổn thất riêng thậm chí cho dù không do mắc cạn,chìm hay cháy gây ra, tất nhiên với điều kiện là khi không phải là trực tiếp gây ra bởi một hiểm hoạ không được bảo hiểm.  Một vài hiểm hoạ nhất định không bị chi phối bởi điều kiện ” nguyên nhân trực tiếp” (Proximate cause) như được dẫn chứng bởi trích dẫn điều 5 điều khoản FPA dưới đây (chung cho cả hai bộ điều khoản).

“Người bảo hiểm phải bồi thường theo trị giá bảo hiểm cho kiện hàng hay những kiện hàng bị tổn thất toàn bộ (totally lost) trong quá trình bốc, chuyển tải hay dỡ hàng cũng như đối với mọi tổn thất hay tổn hại của quyền lợi được bảo hiểm có thể hợp lí quy cho là do cháy,nổ, đâm va hay đụng chạm của tầu và hoặc xà lan và hoặc phương tiện chuyên chở với mọi vật thể bên ngoài (kể cả băng đá) không phải là nước, hoặc trong quá trình dỡ hàng hoá tại cảng lánh nạn”.

Cả ba bộ ICC 1963 đều đưa vào điều khoản ” vận chuyển” (“transit” clause), điều khoản này mở rộng hành trình được bảo hiểm bởi đơn bảo hiểm SG để bảo hiểm “từ kho đến kho”. Nếu không có mở rộng này thì bảo hiểm chỉ bắt đầu khi hàng được chất xếp lên tầu biển và kết thúc khi hàng hoá được dỡ xuống bến tại cảng dỡ hàng.

Như đã đề cập ở trên, có thể thấy là ICC 1963 lệ thuộc mẫu SG trong việc giải thích phạm vi bảo hiểm theo bộ tài liệu hoàn chỉnh này. Mẫu đơn bảo hiểm này đã bị chỉ trích nhiều trong những năm gần đây, người ta cho rằng hành văn cổ xưa ấy không cần thiết cho nhu cầu hiện đại, và là đơn bảo hiểm phải dễ hiểu ngay đối với người không chuyên môn, không cần đến những giải thích các từ ngữ đã lỗi thời từ bao năm nay. Việc mẫu đơn bảo hiểm đã được sửa đổi trong hơn 70 năm qua bằng cách đính theo những điều khoản càng tăng thêm sự chỉ trích. Tiếp theo phản kháng của UNCTAD cũng như từ các nguồn khác, thị trường Luân đon đã chấp thuận không sử dụng mẫu SG cho bảo hiểm hàng hoá có hiệu lực kể từ 31.3.1983. Để cho một thời gian chuyển tiếp cho việc thay đổi được suôn sẻ, mẫu đơn bảo hiểm kiểu mới được đưa ra có hiệu lực từ 1.1.1982. Các người bảo hiểm và môi giới được khuyến khích sử dụng mẫu đơn bảo hiểm mới càng sớm càng tốt, nhưng trong mọi trường hợp, việc sử dụng mẫu mới được uỷ thác bắt đầu từ cuối tháng 3.1983.

Đơn bảo hiểm mới chỉ là một tài liệu đơn giản không có gì khác hơn là tên người bảo hiểm và một điều khoản ràng buộc người bảo hiểm phải thực hiện hợp đồng. Tất cả các thông tin về rủi ro được bảo hiểm và số tiền được bảo hiểm đều có trong phụ bản kèm trong mẫu đơn bảo hiểm. Trong trường hợp mẫu đơn bảo hiểm “kết hợp” (“combined ” policy),  một bản danh sách được ký tên đóng dấu bên trong đơn bảo hiểm liệt kê những người bảo hiểm tham cùng với dòng khoảng trống để kí và ghi chú được dán. Mỗi khoảng đó được xem như là thiết lập một hợp đồng riêng rẽ với người được bảo hiểm.

Việc bãi bỏ đơn bảo hiểm SG dẫn đến là phải xem xét lại một vài mục để hoàn tất bộ điều khoản hàng hoá mới. Mặc dù mẫu đơn bảo hiểm phải như thế, cần phải giữ các hiểm hoạ được bảo hiểm, hiệu lực của điều khoản “tố tụng và đề phòng tổn thất” và điều khoản “miễn bãi”. Cũng được quyết định là quy định  “memorandum” không cần thiết nữa, và qui định về miễn thường không khấu trừ không còn trong thực tế. Những phần của đơn bảo hiểm SG cần giữ lại được đưa vào điều khoản hàng hoá mới, sửa lại câu chữ cho phù hợp với thực tế để dễ hiểu hơn. 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here