An sinh xã hội đối với nông thôn, miền núi: Không thể chậm trễ hơn

(TBKTSG) – Hiện trạng nghèo tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa đang đặt ra nhiều áp lực lớn đối với quá trình triển khai hệ thống an sinh xã hội (ASXH) dành cho khu vực chiếm hơn 70% dân số cả nước.

Dân cư nông thôn chịu nhiều rủi ro

Theo Tổng cục Thống kê, dân số nông thôn năm 2008 xấp xỉ 62 triệu người, trong đó dân tộc thiểu số là 11 triệu người, chiếm 17,8% dân số nông thôn. Dân cư nông thôn, nhất là vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi là những đối tượng phải đối mặt với nhiều rủi ro trong cuộc sống. Bản thân họ không thể tự chống đỡ với những rủi ro này. Vì vậy, phát triển hệ thống ASXH nông thôn cần phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản và thiết yếu là phổ cập, bảo đảm cho mọi người dân đều có quyền tham gia và hưởng lợi; chia sẻ; công bằng xã hội và nâng cao trách nhiệm cá nhân.

Cuối tháng 6 vừa qua, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) đã tổ chức một cuộc hội thảo lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Đề án hệ thống ASXH với dân cư nông thôn, dân cư vùng nông thôn khó khăn, vùng dân tộc, miền núi (gọi tắt là dự thảo) để hoàn thiện và trình Chính phủ vào cuối năm nay.

Theo ThS. Đặng Kim Chung, Phó viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) – cơ quan chủ trì soạn thảo đề án, cấu trúc cơ bản của hệ thống ASXH đối với khu vực này phải bao gồm năm tầng (lưới).

Tầng thứ nhất là bảo đảm mức sống tối thiểu của dân cư nông thôn. Tầng thứ hai là chính sách thị trường lao động. Tầng thứ ba là bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc và tự nguyện, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo biểm nông nghiệp (thí điểm) và các hình thức bảo hiểm khác. Tầng thứ tư là chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và tầng cuối cùng là trợ giúp xã hội (cứu trợ đột xuất và trợ cấp xã hội thường xuyên).

Số liệu tổng điều tra nông nghiệp nông thôn năm 2006(1) của Bộ LĐ-TB&XH cho biết lực lượng lao động nông thôn Việt Nam có 32,13 triệu người, trong đó nhóm dân tộc thiểu số là 5,2 triệu người, chiếm 16,2%. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng này rất thấp. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chuyên môn chiếm 91,97%, đã qua dạy nghề hoặc có bằng trung cấp chiếm khoảng 6%, có trình độ từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm hơn 2%. Các tỷ lệ này tương ứng đối với nhóm dân tộc thiểu số là 96,4%; 2,8% và 0,7%.

Dự báo của ILSSA (bảng 1) cũng cho thấy tỷ lệ lao động nông thôn không có trình độ chuyên môn kỹ thuật vẫn cao trong thập kỷ tới.Báo cáo “Theo dõi nghèo nông thôn theo phương pháp cùng tham gia” của tổ chức Oxfam Anh, Oxfam Hongkong và ActionAid Việt Nam tiến hành tháng 11-2008 tại 10 xã thuộc chín tỉnh trên cả nước đã chỉ ra tại nhiều địa bàn khảo sát có tỷ lệ bình quân là xấp xỉ hai phần ba hộ nghèo.

Mặc dù mức độ nghèo hiện nay đã có nhiều cải thiện so với vài năm trước, nhưng tình trạng nghèo thực sự rất khó đánh giá chính xác nếu chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập. Theo nhóm khảo sát, đối với người nghèo nông thôn, chất lượng bữa ăn hiện còn rất thấp và thiếu nhiều dinh dưỡng. Số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2006 của Tổng cục Thống kê theo trích dẫn của ILSSA (2008) cũng cho thấy tỷ lệ nghèo tính theo chi tiêu của khu vực nông thôn là 20,4%, theo thu nhập là 21,4%.

Nhìn chung, mức thu nhập của hộ gia đình nông thôn còn thấp và có nhiều bấp bênh vì thường xuyên phải đối mặt với các loại rủi ro (bảng 2). Đến năm 2008, vẫn có khoảng 12,3% dân số (2,3 triệu hộ gia đình) Việt Nam sống trong cảnh nghèo khổ(2).

Khi “lưới” bị “thủng”

Theo đánh giá của các chuyên gia ILSSA, trong khi cuộc sống của người dân nông thôn không ổn định thì hệ thống bảo đảm và bảo trợ xã hội chính thức chưa thể hỗ trợ họ đối phó với các rủi ro một cách tốt nhất. Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng các hình thức bảo hiểm chưa cao, nhiều hộ vẫn phải dựa vào các mạng lưới ASXH phi chính thức và dựa vào cộng đồng để chống đỡ các cú sốc kinh tế – xã hội.

Điển hình là sự tham gia của người dân vào mạng lưới BHXH tự nguyện rất khó khăn do thu nhập của họ thấp, các thiết kế chính sách BHXH còn bất công bằng và chỉ phù hợp với nhóm người có thu nhập cao.

Theo ThS. Đặng Kim Chung, nguyên nhân chủ yếu vẫn là mức phí đóng BHXH theo quy định vượt quá khả năng tham gia của nông dân, người dân tộc, miền núi. Một yếu tố khác là mức hưởng còn thấp do mức lương thực tế làm căn cứ để đóng BHXH thấp, không dựa trên thu nhập thực tế của người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc cho nên không khuyến khích được sự tham gia rộng rãi của người nông dân.

Ông Chung nói, BHYT hiện nay mới bao phủ được hơn 40% dân số, trong khi tỷ lệ người dân nông thôn tham gia BHYT tự nguyện còn rất thấp, chỉ 10,6%. Trong khi đó, tại khu vực nông thôn, chỉ có nhóm người nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã thuộc Chương trình 135, trẻ em dưới 6 tuổi mới được Nhà nước hỗ trợ BHYT.

Mặt khác, do chính sách BHYT chưa được nghiên cứu đầy đủ, các quy định chưa chặt chẽ, thiếu tính ổn định, nên chỉ những người thường xuyên bị ốm đau, người mắc bệnh mãn tính hoặc người điều trị bệnh có chi phí lớn tham gia BHYT tự nguyện.

Một chuyên gia về ASXH nói với TBKTSG rằng, thực tế người nghèo ở nông thôn rất khó có cơ hội tiếp cận đầy đủ với dịch vụ khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT, và nếu tiếp cận được họ cũng chỉ nhận được các loại thuốc chữa bệnh thông thường sản xuất trong nước, như các loại vitamin hay thuốc chữa cảm cúm, còn các loại biệt dược của nước ngoài trong trường hợp bệnh nhân nghèo bị bệnh nặng bắt buộc phải dùng thì họ đành cắn răng vay mượn mua ngoài.

Nguồn tài chính huy động ở đâu?

Dự thảo nhìn nhận bốn nhược điểm của hệ thống ASXH. Thứ nhất, phát triển chưa đầy đủ, thiếu sự liên kết và hỗ trợ nhau; một số chính sách ASXH hiện hành còn có những bất hợp lý, đặc biệt là chưa có các chính sách ASXH đặc thù cho dân cư nông thôn, dân cư nông thôn vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi.

Thứ hai, diện bao phủ còn thấp, chưa vươn tới những đối tượng nông thôn vùng khó khăn, mạng lưới chủ yếu mới bao phủ khu vực kinh tế chính thức, trong khi người lao động vẫn chủ yếu làm việc trong khu vực phi chính thức và khi có rủi ro xảy ra họ bị rơi ngay vào nhóm đối tượng của chính sách bảo trợ xã hội. Đây là một trong những nguyên nhân tạo ra gánh nặng cho ngân sách. Chất lượng cung cấp dịch vụ ASXH chưa đáp ứng yêu cầu của đối tượng thụ hưởng, nhất là các chính sách ASXH hiện hành.

Thứ ba, nguồn lực đầu tư cho ASXH của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của ASXH, trong khi đó huy động từ cộng đồng còn hạn chế, nhất là vùng nông thôn.

Thứ tư, hệ thống sự nghiệp cung cấp dịch vụ ASXH phát triển chưa theo kịp yêu cầu thực tế, quản lý nhà nước về ASXH nhiều yếu kém. Để giải quyết các tồn tại trong chính sách ASXH nông thôn hiện nay, Đề án đặt ra mục tiêu đến năm 2015 có khoảng 85% lao động nông thôn, dân tộc, miền núi thuộc diện điều chỉnh của chính sách BHXH bắt buộc sẽ tham gia BHXH bắt buộc và đến năm 2020 tỷ lệ này sẽ là 100%.

Đối với chính sách BHXH tự nguyện, đến năm 2015 có 30% lao động nông thôn, 20% lao động vùng nông thôn khó khăn, 15% lao động dân tộc, miền núi tham gia BHXH tự nguyện. Và đến năm 2020, 50% lao động nông thôn, 40% lao động vùng nông thôn khó khăn và 30% lao động vùng dân tộc, miền núi tham gia BHXH tự nguyện.

Chính sách BHYT với khu vực nông thôn cũng hướng đến mục tiêu 100% dân cư nông thôn, dân cư vùng nông thôn khó khăn, dân tộc, miền núi tham gia bảo hiểm y tế vào năm 2015.Tuy nhiên, điều khiến các chuyên gia băn khoăn là ngân sách nhà nước để thực hiện những mục tiêu tham vọng trên không hề nhỏ.

Căn cứ vào tỷ lệ chi ngân sách nhà nước hàng năm cho các chương trình ASXH nông thôn thì đến năm 2015, tổng số tiền ngân sách (dự kiến) chi cho chương trình này vào khoảng 42.000 tỉ đồng và sẽ tăng lên 55.000 tỉ đồng vào năm 2020.

Việc huy động khoản tiền lớn như vậy là điều rất khó trong bối cảnh ngân sách nhà nước luôn trong tình trạng bội chi như hiện nay.Đó là chưa tính tới số tiền phải chi cho các chương trình cứu trợ xã hội đến với các đối tượng thuộc diện trợ cấp xã hội.

_____________________________________

(1) Chỉ điều tra những người trong độ tuổi lao động (không tính học sinh, sinh viên) và những người ngoài độ tuổi lao động đang có việc làm.

(2) Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, 2009, Báo cáo giảm nghèo năm 2008. 

 

Bảng 1: Dự báo lao động nông thôn theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (%)

Không có chuyên môn kỹ thuật

Sơ cấp học nghề, công nhân kỹ thuật không bằng

Công nhân kỹ thuật có bằng trở lên

2010

77,11

14,19

8,70

2015

61,57

27,00

11,42

2020

46,16

37,37

16,48

Nguồn: Tính toán của ILSSA

 

 

Bảng 2: Thu nhập và chi tiêu theo thành thị và nông thôn (Đvt: ngàn đồng/người/năm)

Năm

Thu nhập

Chi tiêu

Thành thị

Nông thôn

Chung

Thành thị

Nông thôn

Chung

2002

7.741

3.597

4.559

6.762

2.731

3.667

2004

10.386

4.979

6.374

9.126

3.531

4.974

2006

13.303,5

6.712

8.473

9.986

4.669

6.090

Thu nhập và chi tiêu theo các nhóm dân tộc của khu vực nông thôn

Dân tộc thiểu số

Kinh/Hoa

Chung

Dân tộc thiểu số

Kinh/Hoa

Chung

2002

2.398

3.785

3.597

1.883

2.864

2.731

2004

3.035

5.348

4.979

2.242

3.776

3.531

2006

3.930

7.286

6.712

2.937

5.026

4.669

Chú thích: số liệu đã được làm tròn; Nguồn: ILSSA

 Nguồn: thesaigontimes.vn

Comments are closed.