Ưu việt của chế độ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới được luật pháp quy định tại Nghị định Chính phủ số 103 ngày 16/9/2008, Thông tư 126 của Bộ Tài chính ngày 22/12/2008.Theo luật pháp, các chủ xe cơ giới khi tham gia giao thông trên lãnh thổ Việt Nam buộc phải mua Bảo hiểm và các doanh nghiệp Bảo hiểm được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (BHBBTNDSCXCG).Xe cơ giới là một cỗ máy hoạt động nên rất nhiều bất ngờ xảy ra khi gặp trục trặc kỹ thuật về cơ khí, về điện, về lốp xe nên khó có thể điều khiển theo ý muốn của người lái xe khi gặp sự cố trên.

Xe cơ giới lại được tham gia giao thông với tốc độ cao nên không thể dừng lại tức thì khi gặp sự cố. Chính vì vậy Bộ Luật dân sự quy định tại điều 623 xe cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ.

Chủ xe cơ giới phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi mình không có lỗi (trục trặc kỹ thuật của xe cơ giới gây ra). Song thực tế, lái xe thậm chí là chủ xe khi gây tai nạn cho người khác không đủ khả năng tài chính để bồi thường cho nạn nhân thiệt hại do lỗi của xe cơ giới gây ra. Trong khi đó nạn nhân nếu không có tiền khó có thể cấp cứu điều trị kịp thời dẫn đến người bị thương nặng có thể tử vong, người bị thương nhẹ có thể bị nặng hơn.
Mặt khác cả chủ xe, lái xe, nạn nhân tham gia giao thông bị tai nạn giữa đường đều xa nhà, xa người thân, không nơi nương tựa vì vậy BHBBTNDSCXCG được quy định là bắt buộc để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nạn nhân, khắc phục hậu quả tai nạn giao thông kịp thời nhất. Hiện tại, ở Việt Nam và các nước trên thế giới đều quy định BHTNDSCXCG là bắt buộc. BHTNDSCXCG hướng về bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nạn nhân, vì sức khỏe, tính mạng của nạn nhân là vô giá, cần được cứu chữa khi gặp TNGT, vì an ninh xã hội và lợi ích cộng đồng.

Thủ tục chi trả tiền bồi thường thiệt hại về người cũng đơn giản, thuận tiện cho chủ xe và nạn nhân cụ thể là:

– Chủ xe chỉ cần cung cấp cho Doanh nghiệp Bảo hiểm giấy tờ liên quan đến Bảo hiểm (Bản sao giấy chứng nhận bảo hiểm), giấy tờ về xe (đăng ký xe, đăng kiểm xe), giấy tờ về lái xe (giấy phép lái xe và chứng minh thư) và các giấy tờ liên quan đến thiệt hại (giấy tờ của bệnh viện). Xác định mức độ thương tích, thương tật do tai nạn gây ra).

– Doanh nghiệp Bảo hiểm phải thu thập hồ sơ tai nạn từ cơ quan công an hoặc cơ quan chức năng để xác định nguyên nhân tai nạn và mức độ lỗi các bên tham gia theo trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ xe theo lỗi gây ra. Riêng bồi thường thiệt hại về người không phân biệt lỗi.

– Bồi thường thiệt hại về người theo 2 cách:

Theo phán quyết của Tòa án (nếu xét xử tại tòa), nhưng không vượt quá số tiền Bảo hiểm (50 triệu đồng/người).

Bồi thường theo bảng trả tiền bảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính, phụ lục đính kèm Thông tư 126.

Như vậy, nạn nhân khi vào viện điều trị tai nạn chỉ cần cơ sở điều trị được hoạt động hợp pháp tại Việt Nam xác định mức độ thương tật, thương tích đối chiếu với bảng trả tiền Bảo hiểm của Bộ Tài chính quy định là biết được mình được trả tiền bồi thường là bao nhiêu. Cách làm này vừa công khai minh bạch, vừa đảm bảo quyền và lợi ích người bị tai nạn bình đẳng với nhau: thương tật như nhau được bồi thường như nhau không căn cứ vào hóa đơn viện phí, thuốc men và chi phí điều trị khác.
Ngoài ra, Nghị định 103 còn quy định các Doanh nghiệp Bảo hiểm phải đóng góp 2% doanh thu vào Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới để đầu tư các công trình đề phòng hạn chế tổn thất, tuyên truyền đảm bảo trật tự an toàn giao thông và BHBBTNDSCXCG, hỗ trợ nhân đạo cho nạn nhân bị từ vong vì tai nạn giao thông khi lái xe bỏ chạy không đòi được tiền bồi thường hoặc lái xe có mua bảo hiểm nhưng vi phạm bị doanh nghiệp Bảo hiểm từ chối bồi thường.

Báo Giao thông Vận tải điện tử

BÌNH LUẬN