Bảo hiểm cho người có thu nhập thấp PDF Print E-mail
Thursday, 07 January 2010 17:26

Bảo hiểm cho người có thu nhập thấp


                                                Th.S Lương Xuân Trường

      Việt Nam là một nước đang phát triển, do vậy mặc dù trong những năm qua nước ta đã đạt được những thành tựu đáng tự hào về phát triển kinh tế-xã hội nhưng đến nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ nhân dân thuộc diện có thu nhập thấp. Riêng về tỷ lệ hộ nghèo, hiện nay Việt Nam vẫn còn khoảng 11% hộ nghèo xét theo chuẩn nghèo hiện nay. Đa phần các hộ nghèo này sống ở nông thôn với nguồn thu nhập chủ yếu là từ sản xuất nông, lâm, ngư và diêm nghiệp. Với đặc điểm “ráo mồ hôi là hết tiền”, người nghèo và cận nghèo (gọi chung là người có thu nhập thấp) là những người dễ bị tổn thương nhất trước những biến động bất lợi của nền kinh tế, ảnh hưởng của thiên tai hay những rủi ro bất ngờ trong cuộc sống.  

   Thưc  hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” trong những năm qua Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách, biện pháp “xoá đói, giảm nghèo” và đến nay đã đạt được những kết quả đáng chú ý. Song song với các chính sách giúp người có thu nhập thấp phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống, chính sách an sinh xã hội cho người có thu nhập thấp (như chính sách bảo hiểm y tế cho người nghèo, cho học sinh, sinh viên trong những năm gần đây) ngày càng được quan tâm. Kinh nghiệm của thế giới cho thấy việc thực hiện bảo hiểm (bao gồm bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm sinh mạng, thương tật và sức khoẻ) là một trong những biện pháp cốt lõi trong các chính sách cải thiện và nâng cao cuộc sống cho người người có thu nhập thấp. Tuy nhiên, việc thực hiện bảo hiểm cho những người có thu nhập thấp ở nước ta trên quy mô rộng, có hệ thống và hiệu quả vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu và thảo luận. Bài viết này tổng kết lại việc thực hiện bảo hiểm cho người có thu nhập thấp ở nước ta, trình bày kinh nghiệm của thế giới và đề xuất những giải pháp mang tính định hướng cho thời gian tới.


   1. Thực trạng bảo hiểm cho người có thu nhập thấp ở Việt Nam

        Việc thực hiện bảo hiểm cho người có thu nhập thấp đã được quan tâm ở Việt Nam, đặc biệt là từ khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Các chủ thể tham gia thực hiện bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm trong đó tiên phong là Bảo Việt, các tổ chức xã hội, tổ chức phi lợi nhuận, các nhà từ thiện. Cụ thể:

       Về bảo hiểm tài sản, trách nhiệm:

      Trong thời gian qua, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt và Groupama, trong đó Bảo Việt là doanh nghiệp đi tiên phong), đã có sản phẩm bảo hiểm tài sản cho nông dân và người có thu nhập thấp như bảo hiểm cây trồng, vật nuôi, bảo hiểm trách nhiệm của chủ nuôi chó. Tuy nhiên, mặc dù bảo hiểm nông nghiệp đã triển khai gần 30 năm nay nhưng đến nay phạm vi triển khai vẫn mang tính “thử nghiệm” và có xu hướng ngày càng thu hẹp. Những nguyên nhân chính lý giải cho thực trạng này là: (1) phần đông nông dân chưa có tập quán tham gia bảo hiểm; (2) mức phí bảo hiểm đặt ra thường thấp để phù hợp với khả năng tài chính của nông dân, do vậy không đảm bảo nguồn tài chính bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm; (3) sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết, bệnh dịch, do vậy khi có thiên tai (bão, lũ lụt, thời tiết khắc nghiệt..), bệnh dịch (như dịch cúm gia cầm, dịch lợn tai xanh, lở mồm long móng...) xảy ra, thiệt hại cho vật nuôi, cây trồng thường ở một diện rộng, mức độ thiệt hại lớn, số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường lớn gấp bội số phí bảo hiểm thu được hay quỹ dự phòng; (4) chi phí để triển khai bảo hiểm nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong phí bảo hiểm thu được. Vì vậy, bảo hiểm nông nghiệp không đem lại hiệu quả kinh tế, thậm chí gây lỗ nặng, làm cho các doanh nghiệp bảo hiểm không mặn mà trong việc triển khai loại hình bảo hiểm này. Điều này có nghĩa rằng, hầu hết nông dân, trong đó có một tỷ lệ không nhỏ là các hộ có thu nhập thấp không được bảo hiểm trước những tổn thất do thiên tai, bệnh dịch và các rủi ro khác. Thời tiết lạnh rét làm hàng ngàn trâu, bò - “đầu cơ nghiệp” của người nông dân ở miền núi phía Bắc - bị tổn thất vào cuối năm 2008; dịch lợn dịch tai xanh, dịch cúm gia cầm trong năm 2008... là những ví dụ minh hoạ rõ nét về sự thiệt hại do thiên tai, bệnh dịch gây ra và sự cần thiết của việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp nói riêng và tài sản nói chung đối với người có thu nhập thấp.  

      Ngoài bảo hiểm nông nghiệp, tuy chưa có số liệu thống kê cụ thể nhưng có thể suy luận được rằng một bộ phận khá nhỏ người có thu nhập thấp có thể có bảo hiểm vật chất xe máy - một tài sản lớn đối với họ. Tóm lại, có thể kết luận được rằng tuyệt đại đa số người có thu nhập thấp, đặc biệt là người nghèo chưa được bảo hiểm về tài sản, trách nhiệm.

      Bảo hiểm sinh mạng, thương tật và sức khoẻ:

      Cùng với bảo hiểm nông nghiệp, Bảo Việt cũng là doanh nghiệp tiên phong trong cung cấp các sản phẩm bảo hiểm sinh mạng, thương tật cho người có thu nhập thấp thông qua sản phẩm bảo hiểm con người. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có một số đối tượng hạn chế (cán bộ hưu trí, cho học sinh, sinh viên) được bảo hiểm và mức trách nhiệm bảo hiểm khá nhỏ. Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (BHNT) cũng gần như chưa đến được với người có thu nhập thấp mà lý do chủ yếu vẫn là hiệu quả kinh doanh thấp khi các doanh nghiệp triển khai đến các đối tượng này. Trong các sản phẩm bảo hiểm con người, bảo hiểm nhân thọ hiện nay, chỉ có sản phẩm bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm con người kết hợp có mức phí bảo hiểm phù hợp với người có thu nhập thấp.

      Bên cạnh các sản phẩm bảo hiểm dành cho người có thu nhập thấp do các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp, ở Việt Nam cũng đã hình thành các quỹ bảo hiểm tương hỗ như quỹ cho vay tương hỗ TYM (viết tắt của Tao Yêu Mày) do hội phụ nữ thành lập năm 1996. Quỹ TYM chuyên cung cấp các khoản vay nhỏ cho phụ nữ nghèo đồng thời cung cấp bảo hiểm tử vong cho người vay và các thành viên trong gia đình của họ. Mức phí bảo hiểm là 200 đồng/tuần. Về quyền lợi bảo hiểm, trong trường hợp người vay chết khoản vay sẽ được xoá đồng thời gia đình của họ được nhận 500 ngàn đồng (mức quy định của năm 2001) để phục vụ cho việc mai táng, trong trường hợp người thân của người vay chết quỹ TYM cũng trả 500 ngàn đồng. Từ năm 2001, TYM cung cấp thêm khoản bảo hiểm y tế với số tiền thanh toán 200 ngàn đồng. Quỹ TYM đã phát triển khá nhanh với số thành viên được bảo hiểm tại cuối tháng 3/2004 lên đến 68.157 người. Mặc dù đã đạt được những kết quả ban đầu và được sự ủng hộ rất nhiệt tình của khách hàng vay vốn nhưng đến nay những quỹ tương hỗ như TYM chưa phổ biến ở các địa phương. Nguyên nhân là do hoạt động của quỹ này cần có sự tài trợ, ủng hộ của các tổ chức và cá nhân. Mô hình bảo hiểm theo quỹ này cũng gặp phải những vấn đề như: mức phí bảo hiểm không đủ để đảm bảo sự hoạt động bền vững của quỹ, cần thiết lập cách thức quản lý quỹ hiệu quả và chi phí hoạt động thấp, mức trách nhiệm bảo hiểm còn quá thấp nên chưa có ý nghĩa thiết thực đối với người có thu nhập thấp trong bối cảnh lạm phát cao.

      Bảo hiểm y tế:

      Việc thực hiện bảo hiểm y tế cho người có thu nhập thấp, đặc biệt là người nghèo được Nhà nước quan tâm trong mấy năm gần đây. Theo Luật Bảo hiểm Y tế có hiệu lực từ ngày 1/7/2009, ngân sách nhà nước sẽ đảm bảo 100% chi phí khám chữa bệnh cho người nghèo. Đến nay một bộ phận người nghèo đã được Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế, tuy nhiên đến nay còn một phận lớn người nghèo nói chung và người có thu nhập thấp nói riêng chưa được hưởng chế độ bảo hiểm y tế.

      Bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm thất nghiệp:

      Mong ước được bảo hiểm hưu trí của người có  thu nhập thấp đã được cụ thể hóa bằng những quỹ tương hỗ như quỹ bảo hiểm hưu trí nông dân tại một số địa phương như Nghệ An; xã Dị Sử, Hưng Yên (được thành lập từ năm 2004)... Với quỹ hưu trí nông dân theo mô hình của Nghệ An, đóng góp và số tiền được nhận quy đổi bằng thóc. Sau 10 năm hoạt động, tính đến thời điểm chuyển giao cho Bảo hiểm xã hội quản lý (01/10/2009) tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội nông dân trong toàn tỉnh Nghệ An là 86.769 người, trong đó có 60.362 người đã được chi trả trợ cấp lần một, 753 người đang hưởng lương hưu, 25.654 người đang tiếp tục tham gia. Tổng thu quỹ bảo hiểm nông dân là trên 194 tỷ đồng, tổng chi quỹ bảo hiểm xã hội nông dân là 99 tỷ đồng. Mô hình bảo hiểm nông dân Nghệ An do Hội nông dân khởi xướng và được dựa trên những tính toán khá đơn giản về mức đóng góp, mức được hưởng. Với mô hình của xã Dị Sử, ngoài phần đóng góp của người tham gia, chính quyền xã đã bổ sung sự đóng góp của những người đi làm ăn xa, các nguồn thu khác của xã và được giao cho Hội người cao tuổi của xã quản lý. Ngoài các quỹ hưu trí nông dân, trong những năm gần đây Nhà nước đã thực hiện trợ cấp một khoản tiền nhỏ định kỳ cho người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên, không có lương hưu hoặc không có trợ cấp bảo hiểm xã hội; thuộc diện cô đơn, gia đình nghèo, tuy có vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con cháu, người thân để nương tựa với trợ cấp hàng tháng 120.000 đồng. Với bảo hiểm thất nghiệp, có thể khẳng định đến nay tuyệt đại đa số người có thu nhập thấp vẫn chưa được bảo hiểm theo loại hình bảo hiểm này.

        Có thể thấy, mặc dù ý tưởng bảo hiểm hưu trí cho người có thu nhập thấp đã được hiện thực hóa ở Việt Nam và thu hút được sự quan tâm đặc biệt của người có thu nhập thấp, chính quyền địa phương và các cơ quan nhà nước nhưng đến nay bảo hiểm hưu trí này mới được thực hiện ở bước sơ khai, trong phạm vi hẹp; việc quản lý quỹ, tính toán mức đóng góp và mức lương được hưởng để đảm bảo sự hoạt động hiệu quả, khả năng thanh toán của quỹ vẫn là vấn đề cần được nghiên cứu, thực hiện.  

   2. Kinh nghiệm trên thế giới

         Bảo hiểm cho người có thu nhập thấp hay còn được gọi là bảo hiểm vi mô (microinsurance) đã được nhiều tổ chức quốc tế như Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, Ngân hàng Thế giới... và nhiều quốc gia trên khắp các châu lục quan tâm thực hiện, đặc biệt là trong hai thập niên vừa qua. Bảo hiểm vi mô cũng nhận được sự tham gia của các doanh nghiệp bảo hiểm (như AIG, PhilHealth). Một số nước đã thực hiện khá thành công bảo hiểm cho người có thu nhập thấp. Trên thực tế, một số mô hình triển khai đã thành công tại một số nước như Ấn Độ, Philippines với sự tham gia của các doanh nghiệp bảo hiểm, các tổ chức tương hỗ, các tổ chức quốc tế và chính phủ.  

         Dưới đây trình bày một số kinh nghiệm và mô hình thành công ở Philippines - một nước Châu Á, có những tương đồng nhất định về văn hoá, xã hội và trình độ phát triển kinh tế so với Việt Nam, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc triển khai bảo hiểm cho người có thu nhập thấp ở nước ta.

      Ở Philippines, việc thực hiện bảo hiểm cho người nghèo được thực hiện chủ yếu thông qua các hội tương hỗ và các tổ chức phi lợi nhuận. Mục tiêu hoạt động của các hội tương hỗ này là: (1) Chi trả quyền lợi cho tử vong, tai nạn, sức khoẻ của các thành viên của hội, người thân và người phụ thuộc của họ; (2) Trợ giúp tài chính trong trường hợp thành viên bị mất việc làm; và (3) Thực hiện bảo hiểm cho các thành viên với phí bảo hiểm thấp: không quá 10% của mức thu nhập tối thiểu/ngày (bằng 1 Đô la Mỹ). Số tiền bảo hiểm tối đa: 4.200 Đô la Mỹ (khoảng 68 triệu đồng).  

      Các yêu cầu  đối với hoạt động của các hội tương hỗ này: Điều khoản phải thật dễ hiểu; Yêu cầu thủ tục, hồ sơ thật đơn giản để yêu cầu bồi thường được thực hiện dễ dàng và nhanh chóng; Định kỳ đóng phí trùng với dòng thu nhập của người đóng phí; Số thành viên tham gia của hội: ít nhất là 5.000 người.  

      Về  mô hình phân phối, hai mô hình được sử dụng. Mô hình thứ nhất là Đối tác-đại lý (Partner-agent), theo đó hội hợp tác với một doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp dịch vụ, hợp đồng bảo hiểm cho các thành viên của hội. Mô hình thứ 2 là hội tương hỗ (Mutual), theo đó hội trực tiếp đứng ra cung cấp dịch vụ và thực hiện bảo hiểm cho các thành viên của mình.

      Để các hội tương hỗ này hoạt động thành công, cơ quan quản lý nhà nước của Philipines thực hiện việc quản lý và giám sát các mặt như: khả năng thanh toán (giám sát hoạt động đầu tư, dự phòng), hiệu quả hoạt động, quản lý hoạt động và truyền thông của các hội.

       Ví dụ về mô hình thành công của Hội tương hỗ CARD (Centre for Agricuture & Rural Development Mutual Benefit Association) tại Philippines:

    * Năm 1994, Quỹ tương hỗ (MMF) được thành lập, cung cấp bảo hiểm cho khách hàng có các khoản vay.
    * Năm 1997, cung cấp hình thức đóng phí tháng với mức đóng 300 Pê sô/tháng và mức phí P400 áp dụng cho các thành viên ngoài 65 tuổi.
    * Năm 1999 - Hội tương hỗ CARD được Cục quản lý bảo hiểm cấp giấy phép hoạt động.

Các nhân tố thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của Hội tương hỗ CARD:

    * Hội có số thành viên lớn với 154.251 thành viên là các hộ gia đình bắt buộc tham gia bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm hưu trí do đó giúp chống lại được sự lựa chọn đối nghịch (anti-selection);
    * Đưa ra mức đóng góp phù hợp với thu nhập của hội viên. Hiện nay, mức đóng góp mỗi tuần là 5 Peso đối với bảo hiểm nhân thọ và 5 Peso cho bảo hiểm hưu trí;
    * Sử dụng mạng lưới thu phí bảo hiểm có sẵn với 157 chi nhánh và 5 trụ sở chính. Sự hiện diện của mạng lưới CARD tạo thuận lợi cho việc thu phí bảo hiểm;
    * Chi phí quản lý thấp: 2% tổng phí bảo hiểm được dùng cho việc thu phí; 20% tổng phí bảo hiểm được dành cho GAE (General Administration Expense - chi phí hoạt động chung) nhưng mức sử dụng thực tế chỉ là 18%;
    * Với tư cách là thực thể riêng biệt thực hiện bảo hiểm, do vậy có thể tập trung vào hoạt động bảo hiểm; duy trì quan hệ kinh doanh/nghiệp vụ trong nội bộ CARD;
    * Thực hiện chiến dịch truyền thông hiệu quả. Hệ thống mạng lưới rộng của CARD làm đơn giản hoá việc truyền thông và nâng cao hiệu quả truyền thông;
    * Xây dựng được một hệ thống bồi thường hiệu quả với số ngày giải quyết  là 1 ngày, 3 ngày hoặc 5 ngày, qua đó làm cho sự hỗ trợ tài chính được thực hiện nhanh chóng;
    * Thực hiện quản lý chuyên nghiệp. Hội có thể yêu cầu sự trợ giúp từ các chuyên gia, những người tình nguyện tận tâm;
    * Hội cũng nhận được sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước và các nhà tài trợ.

               Với sự trợ giúp của actuary, Hội tương hỗ CARD đã thực hiện đóng gói lại các sản phẩm, thực hiện phát triển các sản phẩm mới và cung cấp các dịch vụ phi tài chính, đó là:

      + Chương trình bảo hiểm nhân thọ: Chương trình bảo hiểm nhân thọ trọn đời kết hợp với thương tật toàn bộ vĩnh viễn và sản phẩm bổ trợ chết do tai nạn;

      + Quỹ hưu trí: Bảo hiểm hỗn hợp đến 65 tuổi;

      + Gói bảo hiểm cho tất cả các loại vay: Bảo hiểm tử kỳ nhóm tái tục hàng năm. Sản phẩm này thanh toán toàn bộ dư nợ vay, bao gồm khoản vay gốc cộng lãi vay;

      + Bảo hiểm sức khoẻ thông qua việc hợp tác với công ty bảo hiểm sức khoẻ Philippines (PhilHealth);

      + Hoàn phí bảo hiểm: giá trị hoàn lại được thanh toán cho các thành viên sau 3 năm liên tục;

      + Các dịch vụ phi tài chính bao gồm: các chương trình ngoại khoá cho thanh niên và đám cưới tập thể;

      + Thực hiện theo dõi lịch sử của các thành viên thông qua công cụ đánh giá bồi thường, đánh giá rủi ro và chấp nhận bảo hiểm (MunCET).

       Kết quả là đến ngày 31/12/2007, Hội tương hỗ CARD

 đã có số thành viên tham gia là 469.457 người; Tổng tài sản quản lý 670 triệu Peso (tương đương 16,5 triệu đô la Mỹ); Số tiền bồi thường trong năm 2007 là 45 triệu Peso (tương đương 1,1 triệu đô la Mỹ).

      Dưới đây là một sản phẩm tiêu biểu của Hội tương hỗ CARD - Sản phẩm MICRO Family Protector (Sản phẩm bảo vệ cho gia đình ở quy mô nhỏ).

      MICRO Family Protector là một sản phẩm bảo hiểm cho gia đình vay tài chính vi mô, được thiết kế để cung cấp sự bảo vệ tài chính kịp thời nếu bất kỳ thành viên nào của gia đình chết và sự tổn thất tài chính do hoả hoạn.  

        Đặc điểm của chương trình bảo hiểm MICRO Family Protector:

    * Bảo hiểm tử kỳ, tái tục hàng năm hoặc có thời hạn bảo hiểm gắn với thời gian trả nợ vay. Chương trình chấm dứt khi phí bảo hiểm không được thanh toán sau thời gian ân hạn đóng phí.
    * Đóng phí bảo hiểm hàng tuần, thời gian ân hạn đóng phí là 30 ngày.
    * Người được bảo hiểm: tuổi từ 18 đến 63, có sức khoẻ tốt và có nguồn thu nhập, không cần kiểm tra sức khoẻ khi tham gia.
    * Các rủi ro được bảo hiểm và các mức trách nhiệm:

  1. Các rủi ro được bảo hiểm
Mức trách nhiệm bảo hiểm (Pê sô)
Người được bảo hiểm chính Chồng/Vợ Con
Bảo hiểm sinh mạng 30.000 15.000 5.000
Chết hoặc thương tật do tai nạn 30.000 15.000 5.000
Tiền mai táng 10.000 5.000 2.500
Hỗ  trợ tài chính khi hoả hoạn 40.000
2. Phí bảo hiểm hàng tuần 20 Pê sô/tuần

  Qua hoạt  động của Hội tương hỗ CARD cho thấy:

    * Bảo hiểm vi mô là hình thức bảo vệ rủi ro tốt cho người nghèo;
    * Bảo vệ trước những rủi ro cần được xem là một thành tố hiệu quả của chiến lược giảm nghèo;
    * Những người nghèo có tư tưởng dám nghĩ dám làm sẵn sàng tham gia vào chương trình bảo hiểm vi mô;
    * Các hội tương hỗ có thể sử dụng lợi thế của mạng lưới xã hội về tài chính vi mô và hệ thống thanh toán trong cung cấp dịch vụ bảo hiểm vi mô;
    * Thách thức chủ yếu đối với cơ quan quản lý là việc giám sát chặt chẽ hoạt động nhằm đảm bảo sự hoạt động bền vững và hiệu quả của các hội tương hỗ bảo hiểm vi mô.

    3. Đề xuất về triển khai bảo hiểm cho người có thu nhập thấp ở Việt Nam

      Qua kinh nghiệm của các nước cho thấy, để thực hiện thành công bảo hiểm cho người có thu nhập thấp, cần quan tâm tới các yếu tố sau:

    * Sản phẩm cần đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với nhận thức và trình độ của người có thu nhập thấp;
    * Phạm vi bảo hiểm thiết thực, trước hết là bảo hiểm tính mạng, chết, thương tật do tai nạn, cháy nhà.
    * Phí bảo hiểm thấp, cách thức đóng phí phù hợp với thu nhập và thói quen của người có thu nhập thấp.
    * Thủ tục tham gia bảo hiểm và bồi thường cần đơn giản, nhanh chóng.
    * Chi phí hoạt động thấp, đặc biệt cần sử dụng hệ thống phân phối, hệ thống thanh toán sẵn có để tiết kiệm chi phí hoạt động.
    * Cần khuyến khích càng nhiều người tham gia càng tốt nhằm giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động.
    * Mô hình triển khai phù hợp, cần thực hiện quản lý chặt chẽ, nâng dần tính chuyên nghiệp trong hoạt động nhằm đảm bảo sự hoạt động bền vững đồng thời cần có khung pháp lý về hoạt động bảo hiểm cho người có thu nhập thấp.
    * Việc bảo hiểm cho người có thu nhập thấp có thể được thực hiện tốt hơn khi được tài trợ từ các tổ chức và cá nhân, lồng ghép với các chính sách của Nhà nước (như cho vay xoá đói giảm nghèo, cho vay ưu đãi, đào tạo nghề...), phối hợp với sự hoạt động của các tổ chức chính trị, xã hội.
    * Cần thực hiện tốt việc truyền thông.

 
      Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước, điều kiện hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam, theo chúng tôi có thể sử dụng những mô hình sau khi triển khai bảo hiểm cho người có thu nhập thấp.

   1. Mô  hình cộng đồng tự thực hiện:

          Theo mô hình này, bảo hiểm trước hết sẽ được thực hiện ở quy mô nhỏ là thôn, bản, mường. Tất cả các thành viên đạt điều kiện nhất định trong cộng đồng đều được bảo hiểm và có trách nhiệm tham gia.

         Mô  hình triển khai này có nhiều ưu điểm. Trước hết, nó rất gần gũi với tập quán, truyền thống của các làng xã Việt Nam - truyền thống “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều” - vẫn còn hiện hữu đậm nét ở nhiều làng quê. Tiếp đến, mô hình này có thể đưa ra những hình thức bảo hiểm thiết thực đối với từng cộng đồng. Việc thanh toán tiền bảo hiểm sẽ được thực hiện kịp thời, qua đó giúp các thành viên trong cộng đồng nhanh chóng khắc phục được những hậu quả rủi ro, gia tăng gắn kết và tình cảm cộng đồng. Mô hình này cũng rất dễ dàng được thực hiện thông qua những hương ước, quy định của cộng đồng cũng như những ràng buộc vô hình, quy phạm đạo đức. Chi phí để triển khai mô hình này thường rất nhỏ, thậm chí bằng không thông qua sự hoạt động của các thành viên nhiệt tình trong cộng đồng. Thêm vào đó, mô hình này có thể tiếp nhận được các nguồn hỗ trợ tài chính từ bên ngoài như sự đóng góp của con em thành đạt của cộng đồng. Ngoài ra, mô hình này thường được quản lý chặt chẽ, khó thất thoát khi những người quản lý là những người được tín nhiệm kèm theo cơ chế giám sát tài chính minh bạch và hiệu quả. Mô hình này sẽ hoạt động tốt hơn khi Nhà nước có một khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đồng thời có những biện pháp hỗ trợ về nghiệp vụ từ các doanh nghiệp bảo hiểm, các cơ quan quản lý Nhà nước, sự tham gia và hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể tại địa phương (như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh…), sự hỗ trợ tài chính của các nhà tài trợ.

         Có  thể nói mô hình trên là một quỹ tương hỗ hay một mô hình phi lợi nhuận ở quy mô thôn, bản, mường, tương tự như mô hình TYM của Hội phụ nữ. Đây là mô hình phù hợp nhất đối với Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Khi trình độ và công cụ quản lý được nâng cao, có thể phát triển mô hình trên và mở rộng quy mô hoạt động ra cấp xã/phường, huyện/quận hoặc cao hơn.

         Tuy nhiên mô hình trên có những nhược điểm. Trước hết, mức độ bảo hiểm phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của cộng đồng do nguồn tài chính dành cho bảo hiểm hình thành từ chính thu nhập của các thành viên trong cộng đồng. Do vậy, với những cộng đồng có điều kiện kinh tế từ trung bình trở lên, việc đóng góp bảo hiểm có thể dễ dàng thực hiện và tiền chi trả bảo hiểm cho mỗi thành viên thường có ý nghĩa thiết thực trong khi đó với các cộng đồng nghèo thì việc đóng bảo hiểm có thể khó thực hiện đối với một số thành viên và tiền chi trả bảo hiểm có thể chỉ mang ý nghĩa tinh thần. Tiếp đó, khi phạm vi bảo hiểm chỉ bó gọn ở phạm vi cộng đồng nhỏ sẽ khó thực hiện bảo hiểm những rủi ro có thể xảy ra trên diện rộng như bảo hiểm vật nuôi, cây trồng vì nếu xảy ra những tồn thất lớn và rộng như bão, lũ, bệnh dịch gia súc gia cầm, gây thiệt hại cho một số đáng kể các thành viên thì nguồn tài chính của cộng đồng sẽ không đủ để khắc phục những thiệt hại, nhất là với những cộng đồng nghèo. Do vậy, song song với mô hình bảo hiểm do cộng đồng cơ sở thực hiện, cần nhân rộng mô hình quỹ TYM của Hội phụ nữ.

   2. Mô hình thực hiện thông qua các doanh nghiệp bảo hiểm

          Doanh nghiệp bảo hiểm có thể tham gia thực hiện bảo hiểm cho những người có thu nhập thấp thông qua các hình thức sau:

      - Dành một phần hoạt động bảo hiểm cho người có thu nhập thấp, thay cho các hoạt động từ thiện. Nếu được khuyến khích và ghi nhận, sẽ có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm ủng hộ cách làm này. Đây cũng là cách doanh nghiệp bảo hiểm “nuôi” nguồn khách hàng tiềm năng.

      - Doanh nghiệp bảo hiểm đứng ra thực hiện bảo hiểm và Nhà nước hỗ trợ một phần phí bảo hiểm cho người có thu nhập thấp. Chủ trương hỗ trợ 50% phí bảo hiểm nông nghiệp khi khách hàng vay vốn của các tổ chức tín dụng như đề xuất trình Chính phủ là một chủ trương đúng đắn và cần được thúc đẩy thực hiện sớm.

      - Hỗ  trợ về nghiệp vụ, công nghệ quản lý, phát triển sản phẩm cho các tổ chức thực hiện bảo hiểm cho người có thu nhập thấp.

      - Doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thể triển khai có lãi bảo hiểm cho người có thu nhập thấp thông qua việc xác định sản phẩm, kênh phân phối, thu phí, thủ tục và công nghệ quản lý một cách phù hợp.

             Mô hình bảo hiểm cho người có thu nhập thấp thông qua doanh nghiệp bảo hiểm sẽ được chúng tôi bàn luận sâu hơn trong các bài viết tiếp theo.

c) Mô hình thực hiện thông qua các tổ chức phi lợi nhuận, cơ quan nhà nước

             Bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế cho người có thu nhập thấp cần được thực hiện thông qua Nhà nước (Bảo hiểm xã hội). Nhà nước cần đẩy nhanh lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm thất nghiệp cho toàn dân.

             Ngoài việc xác định mô hình triển khai phù hợp, để bảo hiểm cho người có thu nhập thấp hoạt động hiệu quả, cần xây dựng một khung pháp lý đồng bộ và phù hợp, đặc biệt là trong truyền thông, giám sát quỹ dự phòng, biên khả năng thanh toán và đầu tư. Bên cạnh đó, Hiệp hội Bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm cần trợ giúp tích cực về mặt nghiệp vụ và công nghệ quản lý trong hoạt động bảo hiểm cho người thu nhập thấp.

          Kết luận, với một tỷ lệ không nhỏ dân số có thu nhập thấp và trên 70% dân số sống ở nông thôn, việc thực hiện bảo hiểm cần được xem là thành tố quan trọng trong thực hiện chính sách an sinh xã hội cho người có thu nhập thấp cũng như trong hệ thống chính sách “xóa đói, giảm nghèo” của Việt Nam. Đây là một chính sách lớn, cần có sự hỗ trợ và tham gia tích cực của nhiều chủ thể trong đó Nhà nước đóng vai trò nòng cốt. Xác định mô hình triển khai hiệu quả là công việc cần thực hiện trước tiên.

                                                            Tháng 11/2009

---------------------

Tài liệu tham khảo:

- Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XII.

- An Update on the Lessions learned from the Working Group on Microinsurance, World Bank 21 April 2005.

- TYM’s Mutual Assistance Fund, Vietnam, CGAP Working Group on Microinsurance, Good and Bad Practices, Nhu-An Tran and Tan See Yun, June 2004.

- Protecting the poor. A microinsurance compendium, Craig Churchill, Academic Foundation, 2008.

- Tài liệu hội thảo Asia Insurance Summit 2008, Singapore.

- Hỗ  trợ nông dân một nửa phí bảo hiểm nông  nghiệp, www.tin247.com.

- Hưng Yên: Nông dân xã Dị Sử được trợ cấp "lương hưu", www.vietbao.vn.

- Bảo hiểm y tế còn 'xa xỉ' với người nghèo, www.baodatviet.vn.

- Bàn giao Bảo hiểm nông dân sang Bảo hiểm xã hội, www.baonghean.vn

- Bảo hiểm nông nghiệp: Vườn không nhà trống!, www.sanotc.com.

- Nghị  định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13-4-2007.


  Gửi đăng bài, Tư vấn, Giải đáp thắc mắc, hãy Email cho chúng tôi : admin@webbaohiem.net


Đăng nhập/Đăng ký



ginet

bảo hiểm 24h


www.webbaohiem.net
Bảo hiểm (bao hiem) - Cổng thông tin bảo hiểm Việt Nam ( Bao hiem - cong thong tin bao hiem Viet Nam)